Hiển thị các bài đăng có nhãn Con người xứ Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con người xứ Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Quách Thị Lan – Cô gái Xứ Thanh giành HCB lịch sử cho điền kinh VN tại ASIAD


Quách Thị Lan sinh năm 1996 tại huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Cô gái người dân tộc Mường được giới chuyên môn đặc biệt chú ý, khi phá kỷ lục quốc gia tồn tại suốt 10 năm qua ở nội dung 400m vượt rào tại giải điền kinh Vô địch Quốc Gia 2012. Thành tích này của Lan vượt qua tấm HCV SEA Games 26 và tiệm cận mức huy chương của châu Á.

Sở hữu chiều cao lý tưởng 1 m 74, nặng 53 kg, cùng với những bước chạy mạnh mẽ trên đường đua, cô đang trở thành tâm điểm của giới điền kinh Việt Nam 

Ở đường đua 400 m nữ (vòng loại) tại ASIAD năm nay, Quách Thị Lan đã hoàn tất vòng loại rất xuất sắc. Cô không phải là người bứt lên đầu tiên nhưng ở 200 m cuối, Lan đã vượt lên những đối thủ rất mạnh đến từ Kazackhstan, Nhật Bản để về đích thứ 2 với thành tích 52 giây 27, giành quyền vào chung kết.

Ở nội dung chung kết 400m nữ, Quách Thị Lan đã gây bất ngờ lớn cho các đối thủ, khi về đích ở vị trí thứ 2 với thành tích tích 52 giây 06.

Khi được hỏi về thành tích này Quách Thị Lan chia sẻ: "Đây là thành tích tốt nhất của em từ trước tới nay. Em cũng bất ngờ khi giành HCB bởi ASIAD năm nay không đặt mục tiêu cụ thể"

Tấm HCB của Quách Thị Lan thực sự đáng khen ngợi bởi ở những nội dung chạy ngắn, châu Á có rất nhiều đối thủ mạnh. Phải đến năm 2010 Vũ Thị Hương mới mang về tấm HCĐ và HCB ở nội dung 100m, 200m. Và Asiad này, Quách Thị Lan thậm chí còn làm tốt hơn thế với tấm HCB ở nội dung đầu tiên cô tham dự.

T.H

Đào Duy Từ - Danh nhân xứ Thanh

Đào Duy Từ  (1572-1636) là một nhà quân sự và văn hóa, danh thần thời chúa Nguyến Phúc Nguyên. Ông được coi là đệ nhất khai quốc công thần của họ Nguyễn và được thờ ở nhà Thái miếu. Quân sư Đào Duy Từ, một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử quân sự Việt Nam, người gắn liền với Lũy Thầy nổi tiếng; người được coi là ông tổ của ngành nghệ thuật tuồng truyền thống.


Đào Duy Từ, hiệu là Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, Đại Việt. Cha ông tên là Đào Tá Hán, một xướng hát chuyên nghiệp mất khi ông lên 5 tuổi. Ông được mẹ là bà Vũ Kim Chi nuôi ăn học. Duy Từ tỏ ra là người thông minh sáng dạ, năm 14 tuổi ông vào học trường của Hương cống Nguyễn Đức Khoa. Nhưng Duy Từ không được thi Hương vì luật lệ của nhà Lê bấy giờ cấm con kép hát đi thi vì tục bấy giờ cho rằng xướng ca vô loài, mẹ Duy Từ phải nhờ một viên xã trưởng là Lưu Minh Phương khai đổi họ cho ông từ Đào Duy Từ thành Vũ Duy Từ theo họ mẹ. Viên xã trưởng nhân thế, ép mẹ Duy Từ phải cưới mình mới giúp, mẹ Duy Từ bàn lẩn đi bằng cách bảo khi nào Duy Từ thi đậu mới tiến hành cưới xin. Khoa thi Hương năm Quý Tị (1593), Duy Từ thi đậu Á Nguyên; viên xã trưởng Lưu Minh Phương bèn đòi cưới bà Kim Chi nhưng bà viện lý do Duy Từ mới thi đậu mà mẹ đã tái giá thì xấu hổ mà từ chối, rồi bảo rằng Minh Phương hãy cho con gái lớn về lấy Duy Từ thay thế. Giận dữ, Đỗ Minh Phương nộp đơn kiện bà Kim Chi làm lộ việc đổi họ của Duy Từ, viên quan huyện thụ đơn sau đi báo lại cho quan Hiến Sát.
Lúc bấy giờ, Duy Từ đang ở Hội văn trên Thăng Long dự thi. Khi quan thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang phân vân chấm Duy Từ vì một số bài bàn về cải cách chính trị có hơi trái ý chúa Trịnh Tùng thì bộ Lễ truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột Á Nguyên, lột mũ áo. Nghe tin này, bà Kim Chi cắt cổ tự vẫn. Duy Từ vừa hỏng thi vừa mất mẹ nên đau buồn lâm bệnh nặng.

Theo lệnh của vua Lê Thế Tông và chú Trịnh Tùng Đoan quận cộng Nguyễn Hoàng về trấn Thuận Hóa bàn việc. Nghe trường hợp của Đào Duy Từ và đọc bài của ông biết đây là nhân tài có thể thu dụng cho việc ở Nam phương của mình nên âm thầm giúp đỡ tài chính chạy chữa cho Duy Từ rồi mời vào Nam giúp mình.

Đền thờ Đào Duy Từ tại xã Nguyên Bình - huyện Tĩnh Gia - tỉnh Thanh Hóa

Rồi mùa đông năm Ất Dậu (1627). Đào Duy Từ trốn được vào xứ Đường trong. Đầu tiên ông ở huyện Vũ xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình. Sau biết khám lý Hoài nhân là Trần Đức Hòa là người có mưu trí được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng, ông vào Hoài nhân, đi ở chăn trâu cho một phú ông ở xã Tùng châu. Phú ông thấy Đào Duy Từ học rộng tài cao, biết ông không phải là người thường, liền đem nói với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi chuyện. Thấy mọi chuyện ông đều thông hiểu, liền giữ ông lại và gả con gái cho ông. Khi Trần Đức Hòa xem bài Ngọa long cương của Đào Duy Từ liền nói rằng: Đào Duy Từ là Ngọa long đời này chăng.

Một hôm, Trần đức Hòa đem bài Ngọa long cương cho Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm. Đọc bài Ngọa long cương, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi Duy Từ đến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. thấy chúa Nguyễn Phúc Nguyên chỉ mặc áo trắng sơ sài và đứng cửa nách đợi; Duy Từ dừng lại không vào. Thấy vậy, chúa liền vào thay đổi triều phục, áo mũ chỉnh tề rồi mở cửa lớn ra đón Duy Từ vào nói chuyện. Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó chúa họp bàn đình thần phong cho Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.

Vết tích của Lũy Thầy tại Quảng Bình

Từ đấy Duy Từ nói gì chúa Nguyễn cũng nghe. Ông bày mưu vạch kế giúp chúa Nguyễn làm nên nhiều việc lớn. Chúa Nguyễn thường nói với mọi người: Đào Duy Từ thật là Tử Phòng và Khổng Minh ngày nay

Tháng 3 năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đắp lũy Trường dục từ núi Trường dục đến pha Hạc hải nhằm ngăn chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật lệ vào đánh xứ Đường trong. Năm Tân Mùi (1631), theo lời Đào Duy Từ, chúa Nguyễn lại cho đắp một cái lũy nữa kiên cố hơn, dài 18 km bắt đầu từ núi Đâu mâu qua cửa biển Nhật lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông hải. Nhờ có hai cái lũy trên, chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của quân Trịnh trong một thời kỳ dài.

Ngoài giúp chúa Nguyễn đối phó chúa Trịnh. Duy Từ còn nhiều lần khuyên khéo được chúa Nguyễn việc chính sự, ngoài ra còn tiến cử con rể của mình là Nguyễn Hữu Tiến cho chúa Nguyễn. Nguyễn Hữu Tiến về sau cũng trở thành một công thần của chúa Nguyễn như cha vợ mình.

Tháng 9 năm Canh Ngọ (1630), theo đề nghị của Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Nguyên cho mở cuộc tấn công vào châu Nam Bố chánh, và chiếm được châu này.

Cổng chính vào đến thờ Đào Duy Từ ở Bình Định

Đào Duy Từ luôn coi trọng các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, đặc biệt thúc đẩy phát triển nghệ thuật tuồng vốn là truyền thống của Đàng Trong. 

Năm 1627, Đào Duy Từ là người đầu tiên đã mang về cho chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghệ thuật tuồng (hát bội). Giới nghệ nhân tuồng và cổ nhạc đến nay vẫn thờ Đào Duy Từ làm tổ sư. Bình Định là nơi Đào Duy Từ dừng bước đầu tiên, cũng là nơi được coi là đất phát sinh của nghệ thuật tuồng. Dù có nhiều ý kiến khác biệt nhau về mốc thời gian Đào Duy Từ vào Nam, Nhưng họ Đào là người được ghi nhận đưa tuồng vào Nam đầu tiên. Ngành tuồng ở Huế vẫn có truyền thuyết nói đến việc Đào Duy Từ là người đầu tiên dạy tuồng ở miền Nam thế kỷ XVII . Sách “Những Đại lễ và vũ khúc vua chúa Việt Nam” viết: “Từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 -1635), Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1575 -1634); lập ra Hòa Thanh Thự luyện tập một ban vũ và nhạc để múa hát vào những ngày khánh lễ”. Các nghệ sĩ Tuồng vẫn coi vở tuồng “Sơn Hậu” như một tác phẩm kinh điểm do Đào Duy Từ biên soạn cho ngành nghệ thuật Tuồng cổ Việt Nam. 

Đào Duy Từ đã mở đầu cho một trào lưu sáng tác thơ Quốc âm ở Đàng Trong, làm phong phú thêm cho văn học dân tộc với các bài “Tư dung vãn”, “Ngọa Long Cương ngâm”. Ngoài ra ông còn là tác giả của rất nhiều các vũ khúc biểu diễn cho các bậc vua chúa đương thời thưởng thức như: Vũ khúc Tam tinh chúc thọ, Vũ khúc Múa quạt, Vũ khúc Tứ linh, Vũ khúc Nữ tướng xuất quân, Vũ khúc Tam quốc - Tây du, Vũ khúc Đấu chiến thắng Phật. 

Tháng mười năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đích thân đến thăm viếng. Duy từ khóc rồi thưa: "Thần gặp được thánh minh, chưa báo đáp được mảy may, nay bệnh đến thế này còn biết nói chi nữa" rồi Đào Duy Từ qua đời, thọ 63 tuổi, phụ chính cho chúa Nguyễn được 8 năm. Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, cho táng tại Tùng Châu và phong làm "Hiệp đồng mưu đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu"[8]. Đến năm thứ 5 đời vua Gia Long thì tùng tự ở Thái Miếu, đến thời vua Minh Mạng truy phong là Hoằng quốc công. 

Cảm phục cô học trò mồ côi xứ Thanh

Sinh ra đã không biết mặt cha, mẹ cũng ra đi khi em mới tròn 6 tuổi, bản thân em mắc bệnh suy tim. Vượt qua hành trình tuổi thơ đầy nước mắt và giông bão, Cúc đã chinh phục ngưỡng cửa đại học. 

Cô học trò tội nghiệp ấy là Trần Thị Cúc ở thôn 3 (còn gọi là thôn Đại Long, xã Hoằng Thanh, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa). Em là học sinh lớp 12A5 Trường THPT Hoằng Hóa III. Kỳ thi đại học vừa qua em đã đậu vào trường ĐH Nội vụ - Khoa Quản trị văn phòng với số điểm 17,5 (cộng cả điểm ưu tiên là 21 điểm).

Tuổi thơ đầy nước mắt

Ấn tượng về em ngay khi gặp là hình ảnh một cô bé gầy gò, đen đúa, đôi mắt và đôi môi thâm quầng. 

Bất hạnh đã theo em ngay từ khi chào đời. Sinh ra, em không biết cha mình là ai. 6 tháng tuổi, mẹ mang em trở về ở với bà ngoại. Vì căn bệnh hiểm nghèo nên sau 6 năm sinh em, mẹ em cũng bỏ lại em cho bà ngoại rồi ra đi. Với em hình ảnh về mẹ chỉ là tấm ảnh thờ bởi khi ấy em còn quá nhỏ để nhớ về mẹ và hiểu được sự mất mát lớn của cuộc đời.

Cuộc sống cơ cực khiến cho cô bé mồ côi càng cố gắng vượt qua khó khăn để học tập thật tốt.

Mãi cho đến khi đi học em mới dần nhận ra việc không có bố, không có mẹ là một bất hạnh. Nhớ về những ngày ấy, em lặng lẽ lau nước mắt. Câu trêu chọc của bạn bè “Cúc cụt đuôi, bố mẹ không nuôi ra đường mà ở” hằn sâu trong trái tim em cho tới tận bây giờ. Ngày đó, em đã nghĩ rằng không có bố mẹ là một cái tội để rồi bạn bè em đều xa lánh, kỳ thị. Những vết cứa bất hạnh cứ lớn dần lớn dần trong trái tim non nớt. Có lẽ vì tuổi thơ đầy đau khổ ấy đã khiến cô bé tội nghiệp luôn cố gắng học tập thật tốt.

Cuộc đời em chỉ còn bà ngoại, suốt những năm tháng bà cháu rau cháo nuôi nhau. Tài sản của hai bà cháu là gian nhà cũ nát, tối tăm với chiếc giường tre cũ kỹ, ít sách vở đặt cạnh bàn thờ mẹ em. Em cũng có cậu có dì nhưng người thì làm ăn xa, người ở gần thì bệnh tật, đông con, kinh tế khó khăn nên hai bà cháu cũng không thể bấu víu.

Bà vừa làm cha, vừa làm mẹ, là chỗ dựa tinh thần cho em. Những lúc đói nghèo, cơ cực em đã nghĩ đến việc bỏ học để bà thôi gánh nặng những lời động viên của bà lại khiến em có thêm động lực tiếp tục đến trường.

Với em, kỷ niệm về bà không bao giờ có thể kể hết nhưng cô bé nhớ và đau lòng hơn cả đó là 2 năm đằng đẵng bà bệnh nặng nằm một chỗ, em vừa học vừa đi làm, vừa chăm bà. Thế rồi, bà đã không ở lại với em. Sau khi em vào cấp 3 được một thời gian ngắn, bà cũng qua đời. Vậy là cô bé mồ côi ấy lại bơ vơ giữa cuộc đời.

Trong gian nhà cũ nát, em đã từng nghĩ từ bỏ việc đến trường nhưng rồi nhớ lời trăn trối của bà trước lúc ra đi, nhìn lên di ảnh của mẹ, em lại muốn mình phải cố. 18 tuổi trôi qua là 18 năm em luôn phải gồng mình cố gắng.

Tài sản duy nhất của em chỉ là những cuốn sách đặt bên cạnh bàn thờ mẹ.

Sau ngày bà mất, số tiền trợ cấp cho người già cũng không còn chỉ còn lại tiền trợ cấp con mồ côi mỗi tháng 180 nghìn đồng. Ngoài giờ học em lại đạp xe sang các xã bên cạnh mua bắp ngô rồi rau khoai lang ra chợ bán lại kiếm thêm tiền. Cũng duy trì việc này em mới có tiền để ra Hà Nội thi đại học.

Chưa một lần dám đặt chân đến cửa bệnh viện

Mang trong mình căn bệnh suy tim nhưng không có tiền đi khám và chữa trị, em đã chịu đựng sống chung với bệnh. Nhận ra mình có bệnh từ khi còn học lớp 2 bởi chỉ cần mệt mỏi hay suy nghĩ em lại bị ngất xỉu. Em được mang ra trạm y tế và được chẩn đoán là suy tim nhưng cho tới tận bây giờ em bảo chưa một lần dám đặt chân đến cửa bệnh viện để đi khám vì biết rồi cũng chẳng có tiền mà chữa trị nên đành để vậy thôi.

Sau ngày bà mất, em lo lắng, suy nghĩ, sợ hãi thì bệnh lại tái phát nặng hơn nhưng rồi em vẫn cắn răng chịu đựng. Ngày đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Giáo dục công dân, mới bước ra khỏi phòng thi được một lúc thì em đã ngất xỉu khi ngồi phía sau xe cô giáo chủ nhiệm.

Những lúc tuyệt vọng nhất em lại nhớ lời trăn trối của bà và nhìn di ảnh mẹ để tiếp tục cố gắng.

Gạt nước mắt, cô bé tâm sự: “Việc em ngất xỉu không còn xa lạ gì với các thầy cô nữa chị ạ. Mỗi lần như thế em lại được mọi người đưa vào trạm y tế gần nhất rồi xin thuốc về uống. Cũng chỉ là những gói trà gừng hay vài viên thuốc bổ thôi. Chưa lần nào em dám đi bệnh viện hay bỏ tiền ra mua thuốc cho mình cả vì có những ngày trong người em không có nổi một xu nào. Đến gạo ăn mỗi ngày các thầy cô và các bạn còn phải quyên góp cho em. Em cứ sống như thế rồi cũng trôi qua mỗi ngày”.

Hoàn cảnh, bệnh tật là vậy nhưng suốt những năm đi học, năm nào em cũng đạt học sinh tiên tiến hoặc học sinh giỏi. Từ năm lớp 9, em đã được tham gia các kỳ thì học sinh giỏi tổ chức ở trường, ở huyện và cả cấp tỉnh. Năm lớp 12 vừa qua, mặc dù chịu áp lực rất nhiều nhưng em cũng đã đạt giải khuyến khích cấp tỉnh môn Giáo dục công dân.

“Từ ngày bà mất em luôn nhủ rằng mình phải cố gắng học, chỉ có con đường học mới thoát khổ, nghèo nhưng cho đến bây giờ thì em lại không biết phải cố gắng như thế nào nữa. Giây phút em được cô giáo chủ nhiệm báo đã đậu đại học, em đã khóc. Vừa tủi thân vừa tuyệt vọng…” - cô bé tội nghiệp chia sẻ.

Nghĩ về cuộc đời đầy bất hạnh của mình, cô bé không cầm được nước mắt.

Nói về cô học trò của mình, cô Hồ Thị Thắm; giáo viên chủ nhiệm lớp em tâm sự: “Có lẽ trong cuộc đời đi dạy của mình, Cúc là học trò khiến tôi trăn trở hơn cả. Cũng có nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng Cúc là một học trò có hoàn cảnh bất hạnh và đáng thương nhất. Không những mồ côi, em lại mang trong người căn bệnh quái ác. Không có điều kiện khám chữa bệnh, cộng thêm nhiều hôm nhịn đói đi học nên e thường xuyên bị tụt huyết áp, ngất xỉu. Khó khăn, khổ cực là vậy nhưng em rất nghị lực. Những ngày chuẩn bị cho kỳ thi đại học, em vẫn đi mua ngô và khoai lang ở nơi khác về chợ bán để kiếm tiền đi thi. Đậu đại học rồi, em gặp tôi chỉ biết khóc...”.

Chị em song sinh đỗ thủ khoa, á khoa đại học

Là hai chị em sinh đôi trong một gia đình nghèo, Phạm Thị Việt Hương và Phạm Thị Việt Hà (xã Xuân Hòa, huyện miền núi Như Xuân, Thanh Hóa) đã vươn lên học giỏi và đã đỗ thủ khoa và á khoa trong kỳ thi đại học năm 2014.

Những ngày gần đây, Làng Thanh niên lập nghiệp Sông Chàng (huyện miền núi Như Xuân, Thanh Hóa) bỗng trở nên sôi động hơn bởi tin vui hai chị em Phạm Thị Việt Hà đỗ thủ khoa Học viện Hành chính Quốc gia với số điểm 25,75 và Phạm Thị Việt Hương, á khoa Trường ĐH Luật Hà Nội với 24,25 điểm.

Điều bất ngờ là Hương và Hà là hai chị em sinh đôi (Hương là chị, Hà là em) trong một gia đình nghèo. Bên trong ngôi nhà rộng khoảng hơn 40 m2, tài sản quý giá nhất có lẽ là những tấm bằng khen, giấy khen của hai chị em trong 12 năm học.

Hai chị em song sinh Phạm Thị Việt Hương (á khoa Trường ĐH Luật Hà Nội) và Phạm Thị Việt Hà (thủ khoa Học viện Hành chính Quốc gia).

Hương kể: Từ khi học THCS, hai chị em đã phải tự đạp xe đến lớp với quãng đường từ nhà đến trường gần 10 km. Nhà có hai chiếc xe “cọc cạch”, nhưng hai chị em mỗi người phải đi một cái để lỡ xe của một trong hai bị hỏng thì chị đạp, em dắt xe và vẫn chở nhau về nhà được.

Đường đi đầy ổ gà, ổ trâu nên xe thường xuyên bị thủng săm, hỏng lốp, hư hỏng dọc đường, vì vậy có nhiều hôm hai chị em đi học mà trời tối mới về được đến nhà.

Hai chị em Hương và Hà đang cùng phụ giúp bố mẹ làm vườn.

Vất vả là vậy nhưng hai chị em vẫn luôn có ý thức học tập. Suốt 12 năm học, hai chị em luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi và thay nhau giữ vị trí nhất, nhì của lớp. Kinh tế gia đình khó khăn nên Hương và Hà không có điều kiện đi học thêm, chủ yếu là hai chị em tự học ở nhà. 

Hương đam mê với môn Sử, Hà lại học xuất sắc môn Địa lý. Khi học, hai chị em luôn cùng nhau thảo luận, kiểm tra, bổ sung kiến thức cho nhau; cùng tranh luận về cách làm bài, phương pháp học tốt nhất... Ngoài giờ học, hai chị em còn giúp bố mẹ những công việc nhà, làm vườn, làm đồi.

Ông Phạm Ngọc Ninh - bố hai em Hương và Hà - tâm sự: Khi các em đi thi, gia đình cũng chỉ mong hai chị em đỗ đại học. Nhưng khi bạn học cùng lớp báo điểm thi cho hai chị em, gia đình không ngờ Hà và Hương lại đỗ thủ khoa và á khoa của trường đại học. 

Gia đình đã rất vui mừng và tự hào. Dù sẽ có nhiều khó khăn khi cùng lo cho hai chị em học đại học, nhưng gia đình sẽ cố gắng khắc phục để các em thực hiện được ước mơ của mình.

Nguyễn Quỳnh
Giáo dục & Thời đại

Lê Hoàn - lưu danh hậu thế

“Vua đánh đâu được đấy: Chém vua Chiêm Thành để rửa mối nhục bị bọn phiên di bắt giữ sứ giả của mình; đánh tan quân của vua nước Tống là người vốn dòng họ Triệu, mau chóng đập tan mưu đồ của họ. Có thể coi vua là đấng anh hùng nhất đời vậy”.


Ngô Sĩ Liên
(Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển l)

1. ĐẠI LƯỢC VỀ LÍ LỊCH

Sách Đại Việt sử lược1 chép rằng Lê Hoàn người Trường Châu 2, nhưng sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 13-a) lại nói Lê Hoàn người Ái Châu 3. Sử cũ chép không nhất quán, song, các cuộc khảo sát sau này đều cho kết quả chung, rằng Lê Hoàn người làng Trung Lập, Ái Châu, nay làng này thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Các bộ chính sử và dã sử xưa đều chép rằng Lê Hoàn sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu (tức năm 941) tại Ái Châu. Thân sinh của Lê Hoàn là Lê Mịch, thân mẫu người họ Đặng nhưng chưa rõ tên là gì. Gia đình Lê Hoàn thuộc tầng lớp nghèo khổ ở Ái Châu, đã thế, cả thân sinh lẫn thân mẫu đều nối nhau qua đời sớm, cho nên, tuổi thơ của Lê Hoàn đầy gian nan, cơ cực. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 1, tờ 14 và 15.) chép rằng:

“Trước kia, mẹ của vua là Đặng Thị, khi đang có thai bỗng nằm mơ thấy bụng mình nở ra hoa sen và hoa sen ấy kết thành hạt ngay. Đặng Thị lấy chia cho mọi người nhưng mình lại không ăn. Tỉnh dậy (Đặng Thị) lấy làm lạ lắm. Đến khi sinh con thấy con có dáng mạo khác thường, Đặng Thị nói với mọi người rằng:

- Thằng bé này về sau ắt sẽ làm nên cơ nghiệp lớn, chỉ tiếc là tôi chẳng kịp hưởng lộc mà thôi.

Được độ vài năm, thân mẫu rồi thân sinh (của Lê Hoàn) đều mất. Khi ấy, có viên quan giữ chức Quan Sát ở Ái Châu người họ Lê (hiện chưa rõ tên), thấy Vua có dáng mạo khác thường, bèn nhận làm con nuôi. Một năm, trời mùa đông rét mướt, Vua phải nằm phục xuống như hình cối úp (cho đỡ rét), chẳng dè đêm đến, cả nhà rực ánh sáng lạ bởi có con rồng vàng nằm che trên Vua. Viên quan họ Lê càng lấy làm lạ.

Khi lớn lên, vua từng giúp việc cho Nam Việt Vương (Đinh) Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng – NKT), tỏ ra có tài trí và chí lớn hơn người. (Đinh) Tiên Hoàng khen là người có mưu lược và khỏe mạnh, lúc đầu giao cho cai quản hai ngàn quân, sau thăng dần đến chức Thập Đạo Tướng Quân 4, Điện Tiền Chỉ Huy Sứ”.

Đinh Tiên Hoàng có ba người con trai được sử sách chép tới. Con trưởng là Đinh Liễn, người từng cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân. Tháng năm (nhuận) năm Kỉ Tị (969), Đinh Liễn đã được phong làm Nam Việt Vương. Năm Nhâm Thân (972) Nam Việt Vương Đinh Liễn được cử làm sứ giả sang nhà Tống. Năm Ất Hợi (975) Nam Việt Vương Đinh Liễn được nhà Tống phong làm Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ti, hàm Kiểm Hiệu Thánh Sư, tước Giao Chỉ Quận Vương. Tóm lại, việc kế vị trong tương lai của Đinh Liễn đã rất rõ. Nhưng, tháng giêng năm Mậu Dần (978), Đinh Tiên Hoàng vì quá yêu mến người con út còn nhỏ tuổi là Hạng Lang nên đã lập Hạng Lang làm Thái Tử. Việc này khiến cho Đinh Liễn uất ức. Đầu năm Kỉ Mão (979), Đinh Liễn đã giết chết Hạng Lang. Và đến tháng mười năm ấy, thì cả Đinh Tiên Hoàng lẫn Đinh Liễn đều bị bề tôi nhỏ là Đỗ Thích giết hại.

Con thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn, do bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga sinh hạ vào năm Giáp Tuất (974). Năm Mậu Dần (978), khi Hạng Lang được phong làm Thái Tử thì Đinh Toàn được phong làm Vệ Vương. Cuối năm 979, khi Đỗ Thích giết hại cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, triều đình bèn tôn Đinh Toàn (lúc này mới 5 tuổi) lên ngôi Hoàng Đế. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), trước nguy cơ bị quân Tống xâm lăng, triều đình bèn tôn quan Thập Đạo Tướng Quân là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Toàn bị giáng làm Vệ Vương như cũ và được Lê Hoàn thương như con đẻ của mình. Năm Tân Sửu (1001), Đinh Toàn mất khi cùng với Lê Hoàn di đánh dẹp ở Cử Long (vùng người Mường, nay thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.), hưởng dương 27 tuổi.

Người con út là Hạng Lang, bị giết khi còn quá nhỏ, không để lại chính tích gì đáng kể.

Như vậy là Lê Hoàn được tôn lên ngôi Hoàng Đế trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của đất nước. Bá quan văn võ đã tin ở Lê Hoàn và Lê Hoàn cũng đã thực sự xứng đáng với niềm tin lớn lao đó. Từ đây, triều Lê được dựng lên. Để phân biệt với triều do Lê Lợi dựng lên sau này, sử gọi triều Lê mở đầu từ Lê Hoàn là triều Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lãnh đạo cả nước đập tan hoàn toàn cuộc xâm lăng của quân Tống vào năm 981, và ngay năm sau (982) lại trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành. Khi biên giới mặt Bắc và mặt Nam đều đã được ổn định, Lê Hoàn đã tiến hành xây dựng và củng cố sức mạnh của đất nước. Lê Hoàn ở ngôi 25 năm (980 – 1005) và trong thời gian ở ngôi, đã dùng ba niên hiệu khác nhau:

- Thiên Phúc (980-988) vốn là niên hiệu cũ của Đinh Toàn.

- Hưng Thống (989 – 993).

- Ứng Thiên (994 – 1005).

Tháng 3 năm Ất Tị (1005), Lê Hoàn mất vì bệnh, hưởng thọ 65 tuổi. Người đời và cả một số ít sử sách vẫn gọi Lê Hoàn là Lê Đại Hành, nhưng các sử thần lỗi lạc, cũng là các bậc danh Nho thuở xưa thì không đồng ý như vậy. Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322) nói:

“Thiên Tử và Hoàng Hậu, khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế hoặc Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi đã táng vào sơn lăng yên ổn đâu đó rồi thì họp bầy tôi lại để bàn định đức hạnh hay dở mà đặt thụy hiệu, không gọi là Đại Hành nữa. Nhưng, Lê Hoàn thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu rồi truyền mãi đến nay là vì sao? ấy là vì (Lê) Ngọa Triều là đứa con bất tiếu, triều đình lại không có bề tôi Nho học để bàn giúp việc đặt thụy hiệu nên mới đến nỗi như thế” (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển 1, tờ 25-a).

Lê Hoàn có 12 người con trai, gồm 11 người con ruột và 1 người con nuôi. Tiếc thay, nếu Lê Hoàn là biểu tượng nổi bật của tinh hoa lịch sử trong thế kỉ thứ 10, thì các con trai của ông lại chỉ có đức hạnh rất tầm thường. Đó chính là nguyên do dẫn đến sự cáo chung của triều Tiền Lê vào cuối năm 1009.

Triều Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập truyền nối được ba đời, kéo dài tổng cộng 29 năm, gồm: Lê Hoàn (980 – 1005), Lê Trung Tông (ở ngôi 3 ngày của tháng 11 năm 1005) và Lê Long Đĩnh tức Lê Ngọa Triều (1005-1009). Tất cả sự nghiệp lớn của triều Tiền Lê đều do Lê Hoàn tạo lập nên. Cống hiến của Lê Hoàn trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, tên tuổi của Lê Hoàn sở dĩ trở nên bất diệt với lịch sử, trước hết và chủ yếu là nhờ ở tài thao lược tuyệt vời. Lê Hoàn là một trong những vị danh tướng của nước nhà.

2. LÊ HOÀN VỚI TRẬN ĐẠI PHÁ QUÂN TỐNG XÂM LĂNG NĂM 981

Quân Tống xâm lược nước ta

Năm 960, Triệu Khuông Dận đã thống nhất được phần lớn lãnh thổ Trung Quốc và lập ra nhà Tống. Thời Ngũ Đại Thập Quốc của Trung Quốc chấm dứt kể từ đó. Nhà Tống kéo dài trước sau tổng cộng hơn ba trăm năm (960 – 1278). Tuy cơ đồ cũng lắm phen thăng trầm nghiêng ngửa, nhưng chính triều đại này đã hai lần xua quân sang xâm lược nước ta. Lần thứ nhất là năm 981, bị Lê Hoàn đánh cho đại bại và lần thứ hai là năm 1077, bị Lý Thường Kiệt đánh cho tan tành.

Khi ở nước ta, nội bộ triều Đinh liên tục khủng hoảng và xung đột, thì ở Trung Quốc, triều Tống đã trải hai mươi năm xây dựng và củng cố. Tham vọng bành trướng xuống phương Nam ngày càng rõ rệt và mãnh liệt hơn. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 9 a-b) chép về mưu đồ của nhà Tống như sau:

“Mùa hạ, tháng 6 (năm Canh Thìn, 980 – NKT), quan giữ chức Tri Châu của Châu Ung bên nước Tống là Thái Thường Bác Sĩ Hầu Nhân Bảo, dâng thư tâu lên vua Tống rằng:

- An Nam Quận vương (chỉ Đinh Tiên Hoàng – NKT) và con của hắn là (Đinh) Liễn đã bị giết, nước ấy sắp đổ, có thể nhân cơ hội này mà cho quân sang đánh lấy. Nếu bỏ qua việc mưu tính lúc này, sợ lỡ mất cơ hội. Vậy, xin cho thần được về cửa khuyết để tâu bày trực tiếp chuyện có thể đánh lấy được.

Vua Tống định sai người theo đường dịch trạm, đến gọi Hầu Nhân Bảo về, nhưng bề tôi là Lư Đa Tốn nói:

- An Nam hiện đang rối loạn từ bên trong, đó chính là lúc trời khiến phải mất, triều đình ta nên bất ngờ cho quân sang đánh úp, nhanh như người đời vẫn nói là sét đánh không kịp bịt tai. Nay, nếu cứ gọi Hầu Nhân Bảo về bàn định trước thì mưu này nhất định sẽ bị bại lộ, khiến cho kẻ kia (chỉ nước ta – NKT) biết được rồi dựa vào núi ngăn biển cách mà phòng bị, thì cái thế được thua chưa biết sẽ ra sao. Vậy, chi bằng hãy giao cho Hầu Nhân Bảo ngầm đem quân sang, theo lệnh mà lo liệu việc ấy, cho được chọn tướng và đem ba vạn quân Kinh Hồ (quân đội lấy người ở các tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay. Thời Tống, đất này gọi là Kinh Lộ và Hồ Lộ (Lộ là đơn vị hành chính địa phương – NKT)) thẳng tiến sang, tạo ra cái thế vạn toàn, chẳng khác gì bẻ cành khô hay xô cây gỗ mục, không lo gì tốn người hao tên cả.

Vua Tống cho là phải.

Mùa thu, tháng bảy (năm Canh Thìn, 980 – NKT), ngày Đinh Mùi (ngày 16 – NKT), nhà Tống lấy Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu Lục Lộ Thủy Lộ Chuyển Vận Sứ, Tôn Toàn Hưng làm Lan Lăng Đoàn Luyện Sứ, Hác Thủ Tuấn làm Tất Tác Sứ, Trần Khâm Tộ làm An Bí Khố Sứ, Thôi Lượng làm Ung Châu Lộ Binh Mã Đô Bộ Thự, Lưu Trừng làm Ninh Châu Thứ Sử, Giả Thực làm Quân Khí Khố Sứ, quan giữ chức Cung Phụng Quan Cáp Môn Chi Hậu là Vương Soạn làm Quảng Châu Binh Mã Đô Bộ Thự… Tất cả cùng họp quân và hẹn ngày sang đánh nước ta”.

Như vậy là, từ quan trấn giữ biên ải như Hầu Nhân Bảo đến quan hầu cận trong triều như Lư Đa Tốn, rồi cả đến vua Tống cũng đều quyết chí xâm lược nước ta. Chúng gặp nhau trong âm mưu bất ngờ tấn công ta khi mà nội bộ nước ta đang gặp những bế tắc không nhỏ.

Lê Hoàn đại phá quân Tống.

Khi quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Lê Hoàn đang là phó Vương, lo việc Nhiếp Chính thay cho nhà vua lúc bấy giờ là Đinh Toàn mới 5 tuổi. Thực tế này khiến cho Định Quốc Công là Nguyễn Bặc, Ngoại Giáp là Đinh Điền và Phạm Hạp nghi ngờ rằng Lê Hoàn sẽ cướp ngôi. Họ hợp mưu dấy binh, quyết giết Lê Hoàn. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 7-b) chép rằng:

“Thái, Hậu (chỉ bà Dương Vân Nga – NKT) nghe được tin ấy lo sợ báo với Lê Hoàn rằng:

- Bọn (Nguyễn) Bặc dấy binh làm loạn, khiến cho cả nước phải kinh hoàng. Nay vua còn nhỏ tuổi, chưa thể kham nổi việc trừ nạn, vậy, các ông nên sớm liệu đi, chớ để tai họa về sau.

Lê Hoàn đáp:

- Thần ở chức Phó Vương, giữ quyền Nhiếp Chính, dù tai họa sống chết thế nào cũng đều phải đảm đương trách nhiệm.

Nói rồi, (Lê Hoàn) chỉnh đốn quân ngũ, đánh nhau với (Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc ở Tây Đô5.
Bọn (Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc thua chạy. Sau, họ lại đem thủy quân ra đánh, nhưng lại bị Lê Hoàn nhân chiều gió thuận mà phóng lửa đốt hết (Đinh) Điền bị chém tại trận còn (Nguyễn) Bặc thì bị bắt đóng cũi đem về kinh sư (chỉ Hoa Lư, Ninh Bình – NKT). (Lê Hoàn) kể tội (Nguyễn Bặc) như sau:

- Tiên Đế (chỉ Đinh Tiên Hoàng – NKT) gặp nạn, thần nhân và người trong thiên hạ đều vừa thẹn vừa căm. Người là kẻ bề tôi, vậy mà nhân lúc bối rối lại dấy binh bội nghĩa. Phận làm tôi có đâu lại thế?

Nói rồi bèn đem (Nguyễn Bặc) chém đầu.

(Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc đã chết, quân của Phạm Hạp cũng mất hết cả khí thế, tan tác chạy về làng Cát Lợi ở Bắc Giang (nay thuộc Hà Bắc – NKT). (Lê) Hoàn đuổi theo, bắt sống được Phạm Hạp, giải về kinh sư”.

Khi Lê Hoàn vừa dẹp xong sự phản kháng của Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp thì quân Tống cũng vừa áp sát biên giới nước ta. Tình hình rất nguy cấp. Sách trên (tờ 9-b và tờ 10-a) chép tiếp:

“Thái Hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ để đi đánh giặc, lại lấy Phạm Cự Lượng người ở Nam Sách Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng – NKT) làm đại tướng. Khi triều đình đang họp bàn kế xuất quân, Phạm Cự Lượng cùng các tướng, mặc nguyên áo trận, đi thẳng vào Nội Phủ, nói với mọi người rằng:

- Thưởng người có công, giết kẻ trái mệnh là phép sáng để làm việc quân. Nay, Chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu có hết sức liều mạng để đánh ngoại xâm rồi lập được chút công lao thì ai sẽ là người biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập quan Thập Đạo Tướng Quân (chỉ Lê Hoàn – NKT) làm Thiên Tử rồi sau mới xuất quân thì tốt hơn.

Quân sĩ nghe vậy liền hô vang: Vạn Tuế!

Thái Hậu thấy lòng người quy phục, bèn sai lấy tấm Long Cổn (áo thêu hình rồng cuộn, dành riêng cho nhà vua – NKT) khoác lên người Lê Hoàn và mời Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế”.

Sự kiện này xảy ra vào tháng 7 năm Canh Thìn (980). Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn lập tức bắt tay vào công cuộc kháng chiến chống Tống. Để có thêm thời gian hòa hoãn hết sức cần thiết cho việc chuẩn bị, Lê Hoàn đã nhân danh Đinh Toàn, gởi thư cho triều đình nhà Tống “xin được làm phiên thần” của nhà Tống, lời lẽ rất mềm dẻo. Nhưng vua Tống không nghe, lập tức gởi tối hậu thư cho Lê Hoàn, bắt phải đầu hàng.

Và cuộc đối đầu lịch sử giữa quân Tống xâm lăng với quân sĩ nước ta do Lê Hoàn cầm đầu đã diễn ra vào tháng 3 năm Tân Tị (981). Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 14-a) chép về diễn biến của cuộc đối đầu này như sau:

“Mùa xuân, tháng ba, bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đến Lãng Sơn (tên một hòn đảo, cũng là tên một vùng đất thuộc Quảng Ninh ngày nay. Nhiều sách vở đã nhầm Lãng Sơn ra Lạng Sơn – NKT), Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua (đây chỉ Lê Hoàn – NKT) tự làm tướng cầm quân đi đánh giặc. Trước hết, (Vua) sai quân sĩ đóng cọc để ngăn sông. Quân Tống rút lui về sông Chi Lăng (tức sông Thương – NKT). Đến đây, Vua sai quân sĩ giả vờ hàng để dụ Hầu Nhân Bảo, nhân đó, bắt được Hầu Nhân Bảo rồi đem chém. Bọn Trần Khâm Tộ nghe tin thủy quân đã thua trận, cũng vội rút về. Vua đem các tướng tới đánh. (Trần) Khâm Tộ thua to, quân sĩ bị giết đến quá nửa, thây người la liệt đầy đồng. Các tướng giặc như Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đều bị bắt giải về Hoa Lư. Từ đó, nước nhà mới được yên. Bầy tôi vui mừng, xin dâng tôn hiệu (cho Vua) là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế”.

Tuy chỉ được chuẩn bị trong một thời gian hết sức ngắn ngủi và trong một điều kiện cực kì khó khăn, nhưng, với quyết tâm cao độ, với năng lực chỉ huy tuyệt vời, Lê Hoàn đã quét sạch quân Tống bằng một trận kết hợp tài tình giữa thủy binh với bộ binh. Trận thắng kiệt xuất này đã khiến cho nhà Tống vừa căm giận, vừa rất kính nể Lê Hoàn. Sau, hai bên giao hảo, vua Tống đã tấn phong cho Lê Hoàn, thế mà nhận chiếu thư, Lê Hoàn không lạy, sứ giả cũng không dám bắt lỗi, Lê Hoàn bảo sứ giả nhà Tống cứ dừng ở biên cương rồi chuyển đạt công văn đến chứ đừng bước vào sâu trong đất ta, chúng cũng đành phải nghe lời. Lê Hoàn từng rửa hận bằng cách thi thoảng lại cho quân sang cướp phá Như Hồng (tên một trấn của Trung Quốc – NKT). Sứ giả của nhà Tống là Lý Nhược Chuyết đến nước ta vào năm Bính Thân (996) có tỏ ý trách cứ việc này, Lê Hoàn liền nói: “Việc cướp bóc trấn Như Hồng là do bọn giặc ở cõi ngoài, chẳng hay Hoàng Đế (chỉ vua Tống – NKT) – có biết rằng đó chẳng phải là quân của Giao Châu hay không. Còn như nếu Giao Châu (chỉ nước ta – NKT) mà muốn làm phản, thì đầu tiên sẽ đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt (cả hai đều ở phía Nam của Trung Quốc ngày nay – NKT), chớ đâu có chịu dừng lại ở trấn Như Hồng mà thôi!”.6.

Vua Tống đã phải dồn căm giận lên đầu những viên bại tướng của nhà Tống. Vương Soạn bị giết chết ở Ung Châu, Tôn Toàn Hưng bị chém bêu đầu ở chợ, Lưu Trừng thì hoảng sợ rồi ốm mà chết.

Tên tuổi Lê Hoàn trong tâm tưởng của các cây đại bút.

Với thắng lợi trọn vẹn của mình, Lê Hoàn đã có công giữ vững độc lập và chủ quyền của quốc gia. Tên tuổi của ông được đời đời ghi nhớ, sự nghiệp của ông (được trăm họ tri ơn. Các cây đại bút, cũng là những sử thần lỗi lạc thuở xưa đã trân trọng chép những lời tôn kính Lê Hoàn. Các tác giả của bộ Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Vua trừ được bọn gian thần trong nước rồi được tôn lên ngôi, đuổi giặc ngoài để yên dân, khiến cho quốc gia thanh bình, Bắc Nam vô sự”.7.

Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322) viết:

“Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc rối tóm bọn (Quách) Quân Biện, (Triệu) Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai lũ nô lệ, chưa đầy vài năm mà đã định yên được bờ cõi, công đánh dẹp và thắng trận, cho dẫu là nhà Hán hay nhà Đường (tên hai triều đại lớn của Trung Quốc – NKT) cũng không thể hơn được”8.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí (nhân vật chí), sử gia lỗi lạc thời Nguyễn là Phan Huy Chú (1782 – 1840) đã viết về Lê Hoàn như sau:

“Vua phá Tống, bình Chiêm, khiến cho cả Hoa Hạ và man di đều sợ hãi. Trung Quốc đã mấy lần sách phong khen ngợi Vua, khiến cho tiếng tăm của Vua trở nên lừng lẫy. Nói về việc trị nước thì Nhà vua luôn chăm lo đến những điều cần của dân, dốc lòng lo cho chính sự, trọng nông nghiệp, cẩn trọng nơi biên cương, quy định pháp chế tuyển dân làm lính, lại còn đổi chia các trấn… quả là rất cố gắng chăm chỉ”.

Năm 1981, giới sử học Việt Nam đã long trọng tổ chức hội thảo khoa học và lễ kỉ niệm 1.000 năm ngày Lê Hoàn đại phá quân Tống. Một lần nữa, tên tuổi của Lê Hoàn lại được kính cẩn đề cao, sự nghiệp của Lê Hoàn được hậu thế tưởng nhớ. 

Trung Túc Vương Lê Lai - Công thần khai quốc

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh giành lại giang sơn, xây dựng nên nước Đại Việt tự do và phát triển trải qua 26 triều đại vua vĩ đại trong vòng 354 năm. Để có được trang sử vẻ vang đó, những nhân tài xuất chúng đã phải trải qua chiến đấu và hi sinh gian khổ và giai đoạn đầu là thời kỳ “Nhen lửa”.


Vào ngày 12 năm Ất Mùi (1415), bốn người: Lê Lợi, Lê Lai, Đinh Liệt và Nguyễn Thận, ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ Phật Hoàng, bàn đường lối bình Ngô cứu quốc, lên phương án vận động tráng niên hào kiệt, hiền tài về Lam Sơn tụ nghĩa và tôn Lê Lợi lên làm Lam Sơn Động chủ. Cuộc khởi nghĩa Lam sơn bắt đầu từ đây. Cùng với sự lãnh đạo khéo léo, đường lối quân sự lỗi lạc của Lê Lợi đã đưa cuộc kháng chiến kéo dài hơn 10 năm mới giành được thắng lợi hoàn toàn. 

Thắng lợi đó đã sinh ra 277 vị công thần khai quốc dưới chế độ vua tôi, xây dựng nên nước Đại Việt giữ được nền độc lập hơn ba thế kỉ, ghi vào trang sử vẻ vang hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sau những năm kháng chiến gian khổ, Lê Lợi lên làm vua được 6 năm. Tháng 8 nhuận năm Quý Sửu (1433) vua Lê Thái Tổ về Lam Kinh và từ trần vào ngày 22 tại chính tẩm. Trước lúc nhà vua quy tiên chầu phật còn dặn lại các hoàng tử và hoàng tộc phải giỗ Công thần đệ nhất Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày (Đại Việt sử kí toàn thư). Từ đó nhân dân ta có câu “21 Lê Lai – 22 Lê Lợi”. Ý nghĩa lời dặn trên là thế nào, thân thế và sự nghiệp Lê Lai ra sao? 

Tương truyền rằng gia đình Lê Lai là quý tộc thuộc người dân tộc ở vùng miền Tây Thanh Hóa. Cụ thân sinh ra Lê Lai là Lê Kiều, mẹ là Lê Thị Kiệu và sinh được hai người con trai. Cả là Lê Viết Giản, thứ là Lê Lai.Lê Lai sinh năm 1355 tại làng Dựng Tú, sách Đức Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa. Địa danh đó thời nhà Nguyễn là làng Tép, thôn Dựng Tú, Tổng Cốc Xá, Châu Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ngày nay là làng Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Tầm vóc thân thể Lê Lai cao, to, da ngăm đen, tính tình cương trực, chí khí cao cả lẫm liệt, dung mạo khác thường. Là con nhà quý tộc nên được học hành đến nơi đến chốn, do đó khi trưởng thành cũng kế được nghiệp cha là Phụ đạo sách Đức Giang, huyện Lương Giang. Vợ Lê Lai là bà Lê Thị Đạo, sinh được 3 người con trai theo thứ tự: Lê Lư (Lê Lô), Lê Lộ, Lê Lâm. Cả ba anh em đều là tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 

Lê Lai và Lê Lợi lệch nhau về tuổi đời nhưng cùng chí hướng và ngang về vị trí, quyền chức ở hai vùng Đức Giang và Khả Lâm nên rất thân nhau. Hai ông thường đến khu rừng bìa làng Tép gọi là Gò Sánh để đàm đạo thế thái nhân tình bình quốc sự (nay là khu đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai). Do vậy, lòng yêu nước căm thù giặc được nung nấu trong lòng các ông đã lên đến đỉnh điểm. Lê Lợi có người bạn tâm đầu ý hợp bên cạnh nên đã tạo cho ông ý chí quyết tâm cao hơn, nên ông đã đi khắp vùng để thăm dò ý nguyện của các hào kiệt tráng sĩ và thu hút nhân tâm. Sau khi Lê Lợi đã nắm bắt được thực tế thì ông bàn với Lê Lai: “Ông phải là người đầu gia nhập đội quân Lam sơn để thu hút các hào kiệt bốn phương về Lam Sơn tụ nghĩa”. Tháng 2 năm Ất Mùi (1415) đã có 3 người gia nhập nghĩa quân gồm: + Lê Lai giờ Thìn ngày 6/2 Ất Mùi (1415) + Đinh Liệt giờ Dậu ngày 8/2 Ất Mùi (1415) + Nguyễn Thận giờ Thìn ngày 9/2 Ất Mùi (1415) Đến ngày 12/3 năm Ất Mùi, bốn người tôn Lê Lợi lên làm Lam Sơn Động Chủ. Từ đó cuộc khởi nghĩa đi vào chiều rộng lẫn chiều sâu ở các làng quê của đất nước. Được toàn dân ủng hộ nên đã tuyển mộ được nhiều nghĩa sĩ yêu nước về Lam Sơn tụ nghĩa. Vì vậy, Lê Lợi đã tổ chức củng cố lại bộ máy lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa cho phù hợp với thời thế lúc này. Đến 20 Tháng 5 năm Ất Mùi (1415) ông đã thành lập ra hội đồng mưu lược gồm có 9 người: Lê Lợi, Lê Lai... Lê Văn Linh và bàn lập Hội thề Lũng Nhai, nhằm mục đích gây lòng tin tưởng, ý chí chiến đấu cho tướng sĩ nghĩa quân, đồng thời cử Lê Lai và Đinh Liệt đi tìm nơi tổ chức hội thề. Vì thế trong nhật kí của Đinh Liệt viết ngày 12/14/9 năm Ất Mùi (1915) như sau: Ta và Lê Lai đạp Linh Sơn Năm ngày ngang dọc chẳng hơi thôn (không làng bản nào) Hiểm trở sơn cùng và thủy tận Lâm nguy chỉ tàm tạm dung thân. Đúng giờ Thìn ngày 10/2 Bính Thân (1916), Tại Mường Giao Lão núi Linh Sơn, 18 tướng đã thề cùng nhau như anh em một nhà và đứng sau Động chủ Lê Lợi là Lê Lai. 

Sau Hội thề Lũng Nhai, đội quân Lam Sơn đã khởi sắc, có nhiều trận thắng lớn, thu phục được lòng dân, huy động được nhân tài và vật lực cho cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đó Tướng Lê Lai chỉ huy đánh một trận thắng lớn nhất trong đời binh nghiệp của ông vào ngày mồng 2 tết. Về sau lập đền thờ Lê Lai nhân dân thôn Dựng Tú lấy ngày 8 tháng giêng để mừng công của Ngài và là ngày mở hội khai hoa cho làng Tép, nơi chôn nhau cắt rốn của Ông.Từ những thắng lợi giòn giã của quân và dân với đường lối tổ chức, lãnh đạo khéo léo của ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa, đã tạo ra sức mạnh tổng hợp làm cho thế cuộc thay đổi rất lớn. Vì vậy, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lại phải họp một lần nữa vào ngày 10 tháng chạp năm Đinh Dậu (1917), ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa họp bàn; Hội đồng mưu lược đổi thành Hội đồng mưu lược tối cao, số người tham gia từ 9 người lên đến 13 người: Lê Lợi, Lê Lai, Lê Văn Linh, ... Bùi Quốc Hưng và Lê Lợi lên ngôi Vua. Giờ Thìn ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất nhằm ngày 7 tháng 2 năm 1418, Lê Lợi xưng Vương lấy niên hiệu là Bình Định Vương; Bộ máy vương triều có hai hàng quan tướng: Bên hàng văn có 18 người, đứng đầu là Nguyễn Thận; bên hàng tướng võ có 51 người trong đó người đứng đầu là Lê Lai. Vương triều hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Mưu lược tối cao đứng đầu là Bình Định Vương. Cục diện chiến trường lúc này thay đổi rất lớn ngày càng có lợi cho nghĩa quân ta. Do đó, giặc Minh cùng vương triều ra sức đàn áp một cách khốc liệt. Do thế và lực không cân sức, toàn bộ nghĩa quân phải rút lên núi Linh Sơn để cố thủ. Cuộc chiến đấu không cân sức này tưởng chừng như cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chỉ đi vào Lịch sử. Song, do sự sáng suốt của Hội đồng mưu lược tối cao, hiệu lực của Hội thề Lũng Nhai, cuộc khởi nghĩa đã bảo toàn được lực lượng cho đến ngày toàn thắng ... Bấy giờ quân Lam Sơn ít lính, thiếu lương, thường bị quân Minh đánh bại. 

Theo sách Đại Việt thông sử, cuối tháng 4 năm 1419, Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Lần này, quân địch bủa vây trùng điệp, vòng vây ngày càng khép chặt lại, vùng Linh Sơn lúc này còn rất hoang sơ, không có dân ở, chính nghĩa có ý chí quật cường, không dân nương tựa hơi sương. Đêm ngày 28/4 năm Kỷ Hợi (1419), Hội đồng mưu lược họp bàn tìm cách cứu vãn, tình thế lúc này như ngàn cân treo sợi tóc. Lê Sát, Đinh Bồ, Lê Thạch, Lê Thục tỏ thái độ đánh đến người cuối cùng ít nhất cũng giết được năm sáu ngàn tên địch. Đinh liệt đứng dậy nói “Tinh thần hy sinh của tướng sỹ nghĩa quân ta còn quý hơn vàng ngọc, song sự hy sinh để rồi cuộc khởi nghĩa cũng đi theo luôn, chỉ để lại hồi âm cho mai sau thì không bằng phải bàn bạc suy nghĩ tìm mọi cách cứu lấy nghĩa quân sống và tiếp tục hoàn thành đại sự ...”. Bình Định Vương và các tướng sĩ tỏ thái độ tán thành với cách đặt vấn đề của tướng Đinh Liệt. Sau đó Lê Lợi hỏi: “Có ai dám bắt chước Kỷ Tín đời Hán không?”. Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói: “Tôi nguyện làm kỉ tín của Hán cao tổ... Tôi xin đi ”. Bình Định Vương và Tướng sĩ cảm động rơi lệ không ngớt. Lê Lai nói: “ Bây giờ đang nguy khốn, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi cùng bị diệt, sợ sẽ vô ích. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?”. Lê Lợi ôm chặt lấy Lê Lai nói: “Lịch sử ghi danh vĩnh thùy bất hủ” và vái trời khấn rằng: “ Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi và con cháu các tướng tá công thần, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”. Đúng giờ Thìn ngày 29 tháng 4 Năm Kỷ Hợi (1419), Tại địa danh Trịnh Cao trên núi Linh Sơn, Lê Lai nhận áo hoàng bào của Bình Định Vương cưỡi voi cùng 500 quân thẳng hướng Đông Bắc tiến đánh trại quân Minh. Quân Minh đổ ra đánh. Lê Lai thúc voi xông thẳng vào giữa trận hô to: “ Ta là chúa Lam Sơn đây!” Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên xúm lại đánh kịch liệt. Do không cân sức, Lê Lai bị quân Minh bắt và đem về Tây Đô hành hình. Lê Lợi nhân lúc việc vây hãm của địch lơi lỏng, cùng các tướng chạy ra đường khác, trốn thoát. Cảm động lòng trung nghĩa của ông, Lê Lợi sai người ngầm tìm được thi hài ông, mang về an táng ở Lam Sơn. Tướng Đinh Liệt thương tiếc Lê Lai đã khóc: Dịch

Kỷ tín tằng tái hiện Lê Lai nguyên thế thiên Tử trung hoàn sinh địa Đại Nam sử vĩnh truyền Niệm hà thời sinh hỏa Tứ nhân đệ nhất kiênTừ Lũng Nhai minh thệ Niêm nhị khóa đào viên Xưng Vương Tết Nguyên Đán Tướng bài trạm thủ tiên Hà nhật thành đại nghiệp Ẩm hà tất tư nguyên Kỷ tín lại xuất hiện Lê Lai nguyện thay trờiTrong chết tìm đất sốngSử Nam mãi sáng ngời Nhớ ngày nào nhen lửa Kiên định nhất bốn người Từ Lũng Nhai minh thệ Vườn đào hai hai cây (1)Xưng Vương tết Nguyên Đán Tướng đứng cạnh lễ đài Ngày nào thành đại nghiệp Uống nước nhớ nguồn khơi Khi cuộc kháng chiến hoàn thoàn thắng lợi, Lê Lợi đã đưa được hài cốt Lê Lai về Lam Kinh mai táng tại Hậu Lăng. Từ đó trong bài chúc văn tế ở Lam Sơn có đoạn:....Lam Sơn tạo ứng nghĩa tòng sự Đồng hưu vĩnh chi ư sơn hà Hiệp mưu tướng sĩ hữu chi công Điểm phong báo phong, điểm chi vi mạc tướng Hoàng gia cung đồ chu ứng gia phong Ngẫu tự mỹ tự khả gia phong Đại ý: Cùng phất cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn, sống cũng ở Lam Sơn, chết cũng ở Lam Sơn. Thoát được vòng vây, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được giữ lại và đã giành lại được giang sơn đất nước vào ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427). Giờ Thìn ngày 15 tháng 3 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi đăng quang, chính thức lấy niên hiệu là THUẬN THIÊN HOÀNG ĐẾ. Thuận Thiên Hoàng Đế thứ nhất (1428), Nhà vua truy phong tướng Lê Lai “Đệ nhất khai quốc công thần suy đồng hiệp đức mưu bảo chính Lũng Nhai công thần là Thiếu úy”.Thuận Thiên Hoàng Đế thứ hai – tháng 12 Kỷ Dậu (1429), Nhà vua sai Nguyễn Trãi viết 2 bản lời thề ước và nhớ ơn Lê Lai đặt vào hòm vàng và phong Thái úy, trân trọng đặt trong cung điện của mình... đồng thời chiếu chỉ cho thôn Dựng Tú lập đền thờ Ngài tại Làng Tép và cắt cho 10 mẫu điền để phục vụ tế lễ tứ thời bát tuyết. 


Ở sau đền còn giữ được nhiều cây cổ thụ có độ tuổi hàng trăm năm phong cảnh uy nghiêm, khí hậu ôn hòa quanh năm. Trước đền là hai cây đại, tương truyền có từ lúc Lê Lợi cho dựng đền. Qua cửa tam quan sẽ xuống hồ bán nguyệt, hồ có đường kính 60 mét. Bờ hồ có tường hoa lát gạch để bảo vệ hồ được lâu bền. Khi ta đi xuống mép nước qua các bậc, sẽ phát ra âm thanh vọng lại, thật là kỳ ảo. Các cụ quan niệm đó là nơi tụ Sơn, tụ Thủy. 

Cùng với Lê Lợi là rất nhiều nhân tài kiệt xuất trong đó có Lê Lai là tấm gương sáng mãi muôn đời về sau. Vì vậy, đền thờ Ngài từ lúc dựng lên, không lúc nào mất mùi hương thơm bay vào không gian lan tỏa bám vào các cây đại thụ lớn dần theo thời gian và lịch sử. Chùa Tép – Đền thờ TRUNG TÚC VƯƠNG LÊ LAI, hai tên nhưng là một, nơi tưởng niệm là nơi an nghỉ của anh hùng Lê Lai đã liều mình cứu chúa để tô vẽ thêm cho lịch sử Việt Nam ngày càng sáng chói. Vì thế, trong năm có hai ngày hội lớn là ngày 8 tháng giêng và ngày 21 tháng 8 Âm lịch, ngày đó gió thảm mưa sầu như thương tiếc người anh hùng vĩ đại vì nước quên mình cứu lấy giang sơn xã tắc thoát khỏi khổ đau loạn lạc. Đồng thời khách thập phương cũng kéo nhau về dự hội để tưởng nhớ công đức uy danh của Ngài. Ngoài ra, nhân dân làng Tép thông Dựng Tú còn phải hành lễ các ngày kỵ 29 tháng 4 Âm lịch và các tiết lễ: Kỳ yên; kỳ phúc; kỳ hòa; trung nguyên; cơm mới.... Thật tự hào làm sao các thế hệ hôm qua, hôm nay và mai sau !

T.S

Nữ thủ khoa 23,5 điểm trường Đại Học Hồng Đức

Vùng quê xã Quảng Giao (huyện Quảng Xương, Thanh Hóa) có cô gái Mai Thị Thắm nhà nghèo, mẹ bị bệnh tâm thần, anh trai qua đời do tai nạn giao thông. Nhưng cô học trò quê đã gắng gượng vượt khó, xuất sắc đỗ thủ khoa trường ĐH Hồng Đức.

Em Mai Thị Thắm - thủ khoa ĐH Hồng Đức.

Tuy vừa tốt nghiệp THPT, nhưng trông vẻ ngoài Thắm rất chững chạc. Tốt nghiệp Trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên (huyện Quảng Xương), Thắm mang theo ước mơ trở thành cô giáo. Em đăng ký dự thi vào ngành Sư phạm Ngữ Văn, Trường ĐH Hồng Đức. Với nỗ lực của mình, Thắm đã đậu thủ khoa với 23,5 điểm. Trong đó, Văn 7,5; Sử 7,5 và Địa 8,5 điểm.

Đậu đại học với số điểm cao, nhưng không giống như những thủ khoa khác, Thắm không có được niềm vui trọn vẹn mà sau đó là một nỗi lo lắng vì hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Mẹ ốm đau, bà nội mất mới được 50 ngày thì đến lượt anh trai cũng bỏ gia đình ra đi mãi mãi, chính vì thế, em rất buồn và càng thương bố mẹ nhiều hơn.

“Nhà em cũng hoàn cảnh, mẹ em ốm, với lại sau sự việc anh trai mất, em cũng rất buồn, em thương bố mẹ rất nhiều. Còn hai chị em gái, nên em tự nhủ mình phải thay anh chăm sóc gia đình, em phải cố gắng nhiều, học đạt kết quả thật tốt để giúp đỡ bố mẹ nhiều hơn để thoát khỏi cảnh sống khổ sở của gia đình”, Thắm chia sẻ.

Nói về kinh nghiệm học tập để đạt được kết quả cao trong quá trình học các môn khoa học xã hội, Thắm khiêm tốn cho biết: “Độ thông minh của khối C có lẽ không bằng khối A, khối C chỉ cần chăm chỉ, cần cù nhiều. Bên cạnh đó cũng cần sự tư duy logic như các môn khoa học. Trong các môn học cần sự cố gắng nhiều. Em chọn học khối C vì nó phù hợp với bạn thân và sở thích, đặc biệt có được nhiều kinh nghiệm sống. Em học không được giỏi lắm. Năm lớp 12 em được giải Ba cấp tỉnh môn Lịch Sử”. 

Hàng ngày, Thắm làm mọi công việc trong gia đình.

Đã hơn 20 năm nay, mẹ em bị bệnh động kinh, tâm thần, cứ khoảng 7 năm là căn bệnh lại tái phát một lần. Mong muốn ra Hà Nội thi đại học, nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên em chọn thi ĐH Hồng Đức để gần nhà đỡ chi phí.

Ngồi cạnh cô con gái của mình, bên cạnh niềm vui không nhỏ anh Mai Văn Qúy lại lo lắng: “Con đậu đại học, là người bố người mẹ lấy làm vui, nhưng lại lo lắng. Cho cháu đi học chứ chưa biết xoay sở vào đâu”. Rồi anh tự an ủi: “Cứ lo cho cháu đi học, mình tính sau. Mẹ thì ốm đau, bệnh tật như thế”. 

Với Thắm, niềm vui đậu thủ khoa chưa trọn thì nỗi lo lắng cho những ngày tới khi nhập trường lại hiện về: “Nói đến ngành Sư phạm, ở nông thôn nhiều người e ngại. Mọi người nói khi học ra không có việc làm nên em rất ngại. Em chỉ mong sao khi vào trường, cố gắng học thật tốt để sau này ra trường xin được việc làm”.

Việc Thắm chọn thi ngành Sư phạm là vì trong gia đình bên ngoại có nhiều người theo nghề Sư phạm nên mọi người hướng em thi vào ngành này. Mẹ bị bệnh nên không làm được việc gì nặng, chỉ phụ giúp một số việc nhẹ trong gia đình.

Nỗi lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt cô thủ khoa ĐH Hồng Đức.

Gia đình nghèo, Thắm không có một góc học tập riêng. Hai chị em chỉ có chung một chiếc bàn xếp nho nhỏ đặt trên giường ngủ để học. Thắm cũng không có nhiều tài liệu để phục vụ học tập, cũng như không đi học thêm ở ngoài. Trong khi đó, cô học trò còn thêm gánh nặng gia đình, nhiều hôm phải thay mẹ làm những công việc trong nhà. 

Nhà Thắm cách trường ĐH Hồng Đức hơn 10km nhưng em cũng chưa biết phải lựa chọn như thế nào. Ở trọ lại thì gia đình khó khăn không đủ chi phí trang trải, đi đi về về thì phương tiện không có.

Thắm cười, nụ cười tươi trong niềm vui đậu thủ khoa nhưng trong ánh mắt bố con em chất chứa đầy nỗi niềm.

Duy Tuyên

Thủ khoa HV Tài chính mong muốn trở thành bác sĩ

Đậu thủ khoa Học viện Tài chính nhưng Nguyễn Quốc Trí (Trường THPT Hoằng Hóa 4, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) vẫn mong đỗ ĐH Y Hà Nội để trở thành bác sĩ chữa bệnh cho mẹ và giúp người nghèo...

Nguyễn Quốc Trí (Ảnh: Bên phải)

Ngay từ nhỏ, Trí đã được mẹ định hướng cho mình phương pháp học tốt nhất là tự học. Bố em làm lái tàu, thường xuyên đi xa. Trong ngôi nhà nhỏ, Trí trở thành người đàn ông duy nhất. 

Ý thức sớm điều này, chưa bao giờ Trí phải để mẹ phải bận lòng vì chuyện học hành của mình, những lúc rảnh rỗi, em lại giúp mẹ làm việc nhà và chăm sóc cô em gái nhỏ.

Khi thi vào THPT, Trí gác ước mơ học trường chuyên tỉnh để học ở trường gần nhà, chăm sóc, đỡ đần mẹ vì mẹ em phát hiện bị khối u ác tính, phải mổ. Từ đó đến nay, cứ 3 tháng mẹ em lại ra viện K để kiểm tra và điều trị. 

Dù ốm đau, mẹ vẫn luôn động viên Trí học - không được lo lắng, phân tâm. Nhìn mẹ đau đớn vì bệnh tật, Trí xót xa và cảm thấy bất lực: “Có hôm mẹ đau quá nằm cả ngày, không ăn uống được, em thương mẹ quá mà không biết phải làm gì cả”.

Hình ảnh mẹ đã là động lực thôi thúc Trí trong học tập. 12 năm liên tục, em luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi. 

Năm lớp 9, Trí đạt giải nhì môn toán, giải ba Giải toán bằng máy tính cầm tay trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Lớp 12, Trí đạt giải nhì môn hóa cấp tỉnh, giải ba trong kì thi học sinh giỏi quốc gia.

Ngoài thi Học viện Tài chính - Trí còn đăng kí thi Trường ĐH Y Hà Nội với mong muốn làm bác sĩ để chữa bệnh cho mẹ mình, cho những người nghèo mắc những căn bệnh nan y.
thủ khoa, điểm thi, điểm chuẩn, đại học, Học viện Tài chính, nhà nghèo, khó khăn

Trí chia sẻ kinh nghiệm học tập của mình “không cần học thêm nhiều, cần nắm thật chắc kiến thức trong sách giáo khoa, quan trọng nhất là khi học phải tập trung cao độ”. Trí thường mượn tài liệu của thầy, của bạn và tập hợp đề của các kì thi những năm trước về tự bấm giờ để làm. Trên lớp, Trí luôn chú ý phương pháp giải các bài khó của thầy, rồi về tự mày mò tìm những cách giải khác.

Thầy Lường Văn Hưng, giáo viên chủ nhiệm của Trí nhận xét: “Trí là học sinh chăm ngoan, đặc biệt có khả năng tự học rất tốt. Trong quá trình học, em luôn bộc lộ tư duy sáng tạo riêng”.

Đỗ thủ khoa Học viện Tài chính, nhưng Trí cho biết có thể em sẽ không học trường này. Cậu học trò ấy vẫn đợi kết quả của Trường ĐH Y Hà Nội, bởi ước mơ lớn nhất của Trí là được làm bác sĩ để giúp mẹ và những người không may như mẹ vượt qua được những cơn đau!

    Trang Nhung

Nữ thủ khoa xứ Thanh xinh ngất ngây của trường Sân khấu điện ảnh

Lương Huyền Thanh, cô gái xinh như hoa với vẻ ngoài thu hút sinh năm 1996, học sinh trường THPT Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa xuất sắc giành vị trí thủ khoa khoa Diễn viên với 8 điểm văn và 16,8 điểm chuyên môn.


Lương Huyền Thanh được đánh giá là cô nàng đa tài, có năng khiếu trong hội họa, đàn hát, từ lâu đã ấp ủ ước mơ trở thành diễn viên điện ảnh.

Sinh ra và lớn lên trong gia đình không có truyền thống về nghệ thuật, bố mẹ là công chức bình thường và cũng chưa từng tham gia bất cứ bộ phim nào nhưng chính sự đam mê và lòng quyết tâm đã giúp Huyền Thanh mạnh dạn thử sức và hái được quả ngọt.

"Em muốn được hóa thân thành các nhân vật và những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống, đặc biệt em thích thể loại và hình tượng vai diễn mà chị Song Hye Kyo thể hiện, kiểu hài hước và lãng mạn...", Thanh nói.

Với bề ngoài xinh đẹp, giọng nói dễ thương, khuôn mặt sáng và nét mặt biểu cảm, cô thủ khoa cao trên 1m7 này rất dễ gây thiện cảm cho người đối diện ngay từ ánh nhìn đầu tiên.


Khi biết kết quả thi, Huyền Thanh đã khóc òa sung sướng. “Đó là số điểm em không dám nghĩ đến, cũng không ngờ mình được thủ khoa nên em vui lắm”, Thanh xúc động.

"Lúc chọn trường đại học, bố không muốn em thi vào trường Sân khấu điện ảnh, nhưng vẫn tôn trọng quyết định của em. Kết quả ngoài sự mong đợi này cũng khiến bố mẹ thêm ủng hộ và tin tưởng vào sự lựa chọn của em, đó là động lực giúp em thêm tự tin vào con đường tương lai phía trước", Huyền Thanh chia sẻ thêm.

Nói về những trải nghiệm trong lần thi tuyển vừa qua, Huyền Thanh tâm sự:" Lúc đầu bắt được đề thi em hơi run, nhưng sau đó em lấy lại được bình tĩnh và hoàn thành tốt bài thi của mình. Em còn được giao thêm tình huống và thử vai, sau khi hình dung những gì có thể xảy ra với nhân vật của mình em đã nhập tâm thực sự vào vai diễn".


Với Huyền Thanh, nụ cười dường như lúc nào cũng nở trên môi. Thời gian rảnh, Huyền Thanh thường dành để tập múa, học thiết kế thời trang và tụ tập bạn bè.

Dự định trong tương lai gần của cô bé thủ khoa xinh đẹp là sẽ cố gắng làm tốt vai trò của một tân sinh viên, đồng thời trau dồi thêm những năng khiếu, sở trường vốn có để phục vụ tốt cho công việc sau này.

Duy Tuyên