Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chuyện kể kinh hãi về ‘thần hổ xám’ báo thù ở Thanh Hoá

Trong lỗ tai hổ xám có hơn 100 vết đỏ như nốt ruồi son, chứng tỏ nó đã ăn thịt hơn 100 người.

Ông Đinh Văn Trinh

Ông Đinh Văn Trinh, 81 tuổi, ở thôn Yên Sơn 2, xã Thành Yên (Thạch Thành, Thanh Hóa) kể rằng, trong truyền thuyết của người Mường vùng Thạch Thành, xưa kia, trong đại ngàn Thành Yên có vô số hổ, nhưng con hổ thành tinh, hay còn gọi là hổ thần, là chúa tể của loài hổ. Nó là vị chỉ huy tối cao, là thủ lĩnh, gây ra những vụ tàn sát người ghê gớm.

Ông Trinh không được tận mắt con hổ khổng lồ này, nhưng theo bố ông và các cụ kể lại, thì nó to gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi hổ đồng loại. Thân nó dài khoảng 4 mét, mình to như con trâu, nó có bộ da vằn nhưng màu xám hơn, chứ không vàng như hổ bình thường.

Hai mắt hổ thần đỏ lòm như cục than nóng rẫy lúc ban đêm, vuốt dài và sắc như dao chọc tiết lợn. Con hổ này vả một cái, nửa thân cây cổ thụ toác ra, nên nếu con người trúng cú tát của nó, chỉ có nước rơi đầu mất mạng. Tiếng kêu của nó trầm, đục, sâu, lại vọng cả trăm dặm, khiến ai nghe thấy cũng bủn rủn tay chân, mất hết sinh lực.

Cũng theo lời kể của các cụ, thì đôi tai của nó rất to, lúc nào cũng vểnh lên để lắng nghe thiên hạ bàn tán về nó. Đặc biệt, trong lỗ tai ấy có hơn 100 vết đỏ như nốt ruồi son, chứng tỏ nó đã ăn thịt hơn 100 người.

Truyền thuyết của người Mường kể rằng, loài hổ hễ ăn thịt một người, thì trên tai sẽ có một vết đỏ. Mỗi vết đỏ tượng trưng cho một linh hồn. Những linh hồn bị con hổ ăn thịt sẽ đi theo nó, chịu sự sai khiến của nó. Khi trên tai loài hổ đã có 100 vết đỏ, thì con hổ đó đã thành tinh.

Khi hổ đã thành tinh, thì màu lông vàng sặc sỡ đặc trưng của loài hổ sẽ biến thành màu xám xịt, nhìn rất hung dữ, ghê rợn. Đó cũng chính là lúc nó trở thành chúa các loài hổ trong rừng.

Cũng theo truyền thuyết ở xứ Mường nơi miền tây Thanh Hóa này, hổ thành tinh có thể sống vài trăm tuổi. Nó ăn hết con trâu một lúc, nhưng cũng có thể ẩn trong hang đá vài năm không cần ăn.

Không biết từ đời nào, nhưng cha ông họ tộc nhà ông Trinh truyền lại rằng, tổ tiên có mối thâm thù với con hổ xám thành tinh trong rừng Thạch Thành.

Ông cố đời trước là một thợ săn thiện xạ. Ngày bé, ông nội thường kể lại những chuyến đi săn, giết vô số hổ của cụ. Người Mường có tục gọi tên theo tên con, có con thì gọi theo cháu, có chắt thì gọi theo tên chắt đích tôn. Tên cụ thay đổi xoành xoạch, nên đến giờ ông Trinh chẳng còn nhớ được tên cụ nữa. Chỉ biết rằng, ngoài tội giết hàng chục hổ, thì cụ đã bắn trọng thương con hổ xám, chính là hổ thành tinh, chúa của bầy hổ trong rừng Thạch Thành.

Ngày đó, con hổ này ăn thịt không biết bao nhiêu người mà kể. Thậm chí, nó còn cả gan ăn thịt cả người nhà của quan huyện Thạch Thành. Quan huyện ức con hổ này lắm, nên trao giải thưởng rất cao cho ai giết được con hổ, vừa để báo thù cho quan, vừa giữ tính mạng cho con dân của ngài.

Rất nhiều thợ săn ở các vùng kéo đến. Quan Pháp có ham thú săn bắn cũng kéo đến Thạch Thành trổ tài, những mong hạ sát được con hổ, vang danh thiên hạ. Tuy nhiên, cả trăm thợ săn vào rừng đều thất bại. May chăng chỉ giết được vài con hổ nhỏ. Nhiều thợ săn thậm chí mất mạng khi giáp mặt hổ thành tinh.

Biết bị săn bắt, con hổ thành tinh này càng lồng lộn tức giận, phá phách cuộc sống xứ Mường, giết hại trâu, bò nhiều vô kể. Nó điên cuồng đến mức cứ cắn cổ trâu bò đến chết rồi bỏ đi, không thèm ăn.

Ngay như gia đình nhà ông Đinh Văn Nhật (hiện 89 tuổi, vẫn đang sống ở thôn Yên Sơn 2, xã Thành Yên), sau này tai bay vạ gió, cũng bị con hổ thành tinh xông vào đàn bò, cắn chết một lúc 20 con, xác chồng chất, máu me đen xỉn cả một cánh rừng.

Chuyện con hổ cắn chết 20 con bò trong đàn bò 100 con của bố ông Nhật cùng một lúc là có thật, được ông Nhật và dân làng xác nhận, chứ không phải chuyện huyền thoại, huyễn hoặc.

Không chỉ phá phách cuộc sống, giết hại trâu bò, mà nó càng điên cuồng cắn giết người. Trong hoàn cảnh đó, ông cố trong họ tộc nhà ông Trinh, dù rất tôn trọng con hổ, nhưng đã không chịu nổi sự tàn ác của nó, mà cùng hai người con vác súng hỏa mai, nỏ, bẫy vào rừng quyết giết con hổ thành tinh này.

Làng Bưng khi đó ở sát núi Vạn Sát và Bộc Tổ Gà, có mấy gia đình sinh sống. Nhà nào cũng lâm vào cảnh khốn khó vì bị hổ bắt sạch vật nuôi, quấy phá không kiếm ăn được.

Giữa núi Vạn Sát và Bộc Tổ Gà có một cái khe. Cứ chiều xuống, con hổ thành tinh thường cùng bầy đàn của nó từ rừng già ra, đi theo khe núi, rồi lần mò đến các bản làng bắt người, bắt vật nuôi.

Ông cố nhà ông Trinh thường đặt bẫy hoặc phục kích ở khe núi này, bắt được cả chục con hổ, nhưng toàn là hổ thường. Riêng hổ thành tinh, ông mới chỉ được nghe tiếng gầm, chứ chưa bao giờ được giáp mặt mãnh thú.

Lần ấy, con hổ thành tinh thường xuyên xuất hiện ở khu vực làng Bưng, nên ngay buổi chiều đầu tiên ông cố đã giáp mặt nó. Hôm ấy, ông cùng 2 người con trai bế một con dê vào rừng. Ông cột con dê vào gốc cây, ngay lối mòn, nơi chi chít dấu chân hổ vừa mới đi từ lúc sáng sớm.

Hai người con trai cầm nỏ, hông đeo dao găm, ông cố đeo khẩu súng hỏa mai vào rừng. Họ chọn một tảng đá to và núp sau tảng đá đó, chờ con hổ đến ăn mồi.

Mặt trời vừa lặn khỏi đỉnh núi, tiếng khỉ hót, gà rừng gáy bỗng im bặt. Cả cánh rừng chìm trong không khí thâm u, tĩnh mịch. Là thợ săn thiệt nghệ, hiểu rõ tập tính loài hổ, nên ông biết rằng, khi cả cánh rừng đang náo nhiệt bởi tiếng kêu hót của các loài, mà bỗng im bặt, thì hổ đã xuất hiện. Oai linh của loài vật này khiến các loài phải kinh sợ, khiếp đảm, mà im re.

Con hổ xuất hiện thật. Trong đời săn bắn, giết hổ của ông cố, ông chưa từng sợ hãi một con hổ nào khi đối mặt, thế nhưng, ông đã dựng tóc gáy khi nhìn thấy con hổ này. Mặt ông cắt không còn giọt máu nào.

Con hổ có màu lông xám xịt, to lớn, dữ dằn. Nó há miệng ngáp một cái, mà miệng rộng tưởng như đến ngót một mét. Thân nó to lớn bằng con bò, mà dài bằng cả cây sào. Mùi hôi từ cái ngáp của nó xộc ra, khiến cha con ông cố ở cách 20 mét, núp sau tảng đá mà như muốn ói. Nó bình thản tiến đến chỗ con dê, đớp một cái con dê mất hút trong miệng. Chỉ còn lại cái chân dê còn dính với dây thừng.

Ngày đó, mới có súng hỏa mai. Để nổ súng, phải châm lửa đốt và bắn từng viên một. Nếu bắn một phát, không trúng đầu, mà trúng phần mềm, thì con hổ không chết được. Khi bị thương, nó xông lên thì ba bố con ông cố chỉ có nước tan xác. Chờ cho con hổ bỏ đi, ông cố và hai người con trở về làng.

Nguồn: VTC news

Khu rừng ma bí ẩn ở Thanh Hóa

Có hàng nghìn phiến đá cổ nằm lẫn giữa cỏ dại và dây leo chằng chịt trên sườn đồi Pọm Páng (Quan Sơn - Thanh Hóa), ẩn chứa nhiều câu chuyện rợn người.

Đồng bào Thái ở bản Co Me (Cây Me) thuộc xã Trung Sơn, huyện vùng cao biên giới Quan Hóa, Thanh Hóa gọi đồi Pọm Páng là quả đồi ma. Cánh rừng bí ẩn nằm lọt thỏm giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, cách thành phố Thanh Hóa chừng hơn 200 km. Đi theo quốc lộ 6, tới ngã ba Tòng Đậu, trườn sang đường 15A, theo tả ngạn sông Mã là đến khu rừng này. Để đến được “vùng đất thiêng” của người Thái, du khách phải mất một gần ngày trời băng qua vô vàn đèo dốc, những khúc cua tay áo. Phương tiện duy nhất di chuyển vào bản Co Me là xe máy.

Các cụ già trong bản Co Me kể lại, xưa kia trong rừng, những khúc xương người nằm vương vãi, lăn lóc giữa gai góc và cỏ dại. Nhiều cụ già trong làng tin rằng, đó là xương cốt của những kẻ liều mạng dám cả gan bước qua lời nguyền truyền kiếp để vào rừng tìm vàng bạc châu báu mà người xưa để lại. Có người bảo, đó là xương người do lũ hổ ăn thịt bỏ lại... Không ai dám bén mảng tới đây, trừ bọn trộm mộ vãng lai băng rừng từ hướng Mường Lát, Lai Châu, Hòa Bình qua.

Vì coi khu rừng ma là “lãnh địa của thần linh” nên hễ thấy có kẻ là mặt xuất hiện, mọi ánh mắt dân bản Co Me đều ném về phía vị khách không mời như dò xét, cảnh giác. Những ánh mắt sắc lẹm đó cho thấy cảm giác về một thế giới khép kín, kỳ bí, không nhiều giao thương với thế giới bên ngoài.

Do  thời gian, nhiều ngôi mộ đã bị san ngang bằng mặt đất, chỉ còn viên đá trấn yểm nằm xiêu vẹo.

Phạm Bá Thược, Trưởng bản Co Me, cho biết ở đây có một khu rừng mộ đá kỳ lạ mà lâu nay, theo đồn đại của người dân địa phương, đó là khu mộ của những người xa xưa “may mắn” chỉ bị hổ tát tai. Người Thái địa phương từng tin rằng, khi “chúa sơn lâm” vồ người, nếu tay của nó chạm vào tai thì con hổ sẽ bỏ xác lại mà không thèm ăn thịt.

Sau đó, người ta thường chôn kẻ xấu số trong rừng sâu, bên trên phải đặt những phiến đá lớn kè chặt để tránh bị loài thú khác đào bới. Nếu chẳng may bị thú dữ moi thấy xác, hồn phách người đó sẽ không thể siêu thoát mà cứ lởn vởn quanh làng, ám hại người dân.

Già làng Phạm Bá Tình là người đầu tiên dám đặt chân sang “vùng đất chết” và cũng là người hiểu rõ cấu trúc của khu mộ đá. Dù đã ngoài tuổi thất thập, dáng gầy gò, da đen cháy nhưng bước đi thoăn thoắt, cụ Tình phăm phăm tiến về phía trước. Từng đôi lần “mò” vào rừng ma nên cụ Tình nhớ khá rõ vị trí những ngôi mộ đá.

Nằm sâu giữa cánh rừng, phía dưới những tán cây cổ thụ, một quần thể hàng trăm ngôi mộ nằm xen giữa cây rừng rậm rạp. Nhiều ngôi mộ cổ ở đây dài tới 5-7 mét. Một số khác ngắn hơn cũng độ 3-4 mét. Xung quanh các ngôi mộ đều được chôn theo nhiều phiến đá lớn theo hướng dựng đứng. Phiến đá phần đầu thường lớn hơn so với những phiến còn lại. Trên sườn đồi Pọm Páng là chi chít các ngôi mộ cổ, không thể đếm xuể có bao nhiêu ngôi mộ cổ trong khu rừng. Cứ cách vài mét lại nhìn thấy những phiến đá tương tự, chôn vòng theo hình ô van, hoặc chữ nhật, hay hình elip. Nhiều phiến đá lớn đã bị xô nghiêng, không rõ do tác động của bàn tay con người, hay tự nhiên...

Giữa trung tâm cánh rừng là một ngôi mộ được cho là mộ tổ của người Thái cổ ở Co Me. Phía trên ngôi mộ này có một phiến đá to cỡ chiếc chiếu một, cao đến quá đầu người, rộng hơn 1m, dày khoảng từ 10 đến 20 cm, bề mặt đã bị phong hóa nặng tạo nên lớp mùn mỏng, không còn nhìn rõ những nét chữ Nho khắc trên đó.

Có điều đặc biệt, trong vùng không hề có loại đá dùng để táng quanh khu mộ này.

Chủ nhân của ngôi mộ đá lớn nhất trong nghĩa địa Co Me, ông Phạm Bá Tình khẳng định đó là mộ của ông Tiều, ông Tổ của vùng đất này. Theo lời kể của những người cao niên, bản Chiềng được lập do công một vị thủ lĩnh người Thái. Vì không ai biết rõ tên, họ của ông nên dân gian quen gọi một cách kính ngưỡng là ông Tiều (ông Cả, ông Trưởng).

Mấy trăm năm trước, ông Tiều dẫn một đoàn thuyền lớn chất đầy gạo, muối, cung nỏ, đạn dược ngược dòng sông Luồng đến khúc sông này. Thấy thế đất đẹp, ông bèn dừng thuyền lập bản, đặt tên là bản Chiềng (bản Trung tâm). Gần đây, khi dân bản Chiềng đã đông đúc, người ta lại qua sông lập thêm bản Co Me. Người bản Chiềng, bản Co Me bây giờ là hậu duệ nhiều đời của ông Tiều.

Điều đặc biệt là theo ông Tình, trong vùng không hề có loại đá dùng để táng quanh khu mộ này. Và cho đến tận bây giờ, người dân địa phương vẫn chưa thể lý giải được, khu mộ có từ bao giờ, đá này được vận chuyển từ đâu tới? Làm cách nào mà người xưa với những phương tiện thô sơ có thể ghè đẽo được những tấm đá lớn nặng hàng tấn như vậy?...

Theo bà Trịnh Thị Lan, Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, tác giả dự án khảo sát nghiên cứu văn hóa cổ truyền xứ Thanh, việc dựng những phiến đá lớn xung quanh khu mộ Co Me là hình thức mai táng theo quan niệm của những cư dân Việt, Mường cổ.

Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn, Trưởng ban Quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa cho biết, sau khi nghe thông tin về khu mộ đá bí ẩn ở bản Co Me, ngành chức năng đã có văn bản yêu cầu chính quyền địa phương kiểm tra thực trạng khu ngôi mộ này để có biện pháp bảo tồn phù hợp. “Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ mời các nhà nghiên cứu mộ cổ ở Viện khảo cổ học Viện Nam về kiểm tra, đánh giá để giải mã những bí ẩn về khu mộ đá cổ này”, ông Tuấn nói.

Thành nhà Hồ - Vén bức màn bí ẩn

Cách đây hơn 600 năm, công trình Thành nhà Hồ đã được xây dựng dựng vững chắc với nhiều phiến đá nặng trăm tấn trên vùng đất Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Công trình đá đồ sộ, độc nhất vô nhị ở Đông Nam Á được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 2011.


Vén bức màn bí ẩn của thời gian, cũng như Kim Tự Tháp của Ai Cập hay Vạn Lí Trường Thành của người Trung Hoa. Người ta không biết giải thích thế nào về cách xây dựng công trình đá đồ sộ này chỉ trong vòng 3 tháng. Đó còn là chưa nói đến cách vận chuyển thế nào về 1 khối lượng đá khổng lồ khoảng hơn 25.000m3, trọng lượng trung bình mỗi khối đá khoảng 10-20 tấn mà chỉ trong vòng một thời gian ngắn ngủi.

Xây thành trong 3 tháng…

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên ghi về sự kiện nhà Hồ cho xây dựng kinh đô Tây Đô như sau: “Mùa xuân, tháng Giêng 1397 Quý Ly sai thượng thư bộ Lại kiêm Thái Sử Lệnh Đỗ Tỉnh về xem xét đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hoá đắp thành đào hào, lập nhà tông miếu, mở đường phố, dựng đàn Xã Tắc có ý muốn dời kinh đô về đó, tháng ba thì công việc hoàn tất” (Nxb. KHXH, Hà Nội 1993, trang 290). Còn sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của triều Nguyễn thì ghi rằng: “Động Yên Tôn - nay là xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, nền cũ của thành vẫn còn, bên tả bên hữu đều sát với núi…” (Nxb GD – HN, 1998, trang 316 quyển IV).

Dù tồn tại trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 7 năm và chỉ kịp xây dựng thành quách trong thời gian vẻn vẹn có 3 tháng (từ tháng giêng năm 1397 đến hết tháng 3 năm đó thì hoàn thành) nhưng triều Hồ đã kịp để lại một công trình kiến trúc độc đáo, một biểu tượng kiệt xuất về công trình thành đá cổ. Thành được xây dựng trên nền diện tích 155ha (vùng lõi) còn quần thể di tích thành rộng 5.000 ha. Thành gồm 3 bộ phận: La Thành, Hào Thành và Hoàng Thành, bên ngoài xây đá, bên trong chủ yếu đắp bằng đất. Thành được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông, chiều Bắc-Nam dài 870,5m; chiều Đông-Tây dài 883,5m; độ cao trung bình 7-8m, có nơi của nam cao hơn 10m. Bốn cổng được xây theo 4 hướng Nam – Bắc – Đông – Tây. Kiến trúc cổng được họa theo mái vòm, những phiến đá trên vòm cửa được đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít nhau. Với 2 cánh cửa dày, nặng và chắc được thể hiện qua dấu vết để lại của những lỗ đục vào đá và những chỗ lắp ngưỡng cửa. Toàn bộ tường thành và 4 cổng chính được xây bằng những phiến đá dài khoảng 1,5m, có tấm dài 6m, trọng lượng trung bình mỗi khối nặng từ 10-20 tấn, cá biệt tường thành phía Tây có khối đá khổng lồ 26,7 tấn, với tổng khối lượng khoảng 25.000m3 đá và gần 100.000m3 đất được đào đắp công phu. Qua hơn 600 năm, hệ thống tường thành gần như vẫn còn khá nguyên vẹn, mặc dù những phiến đá nặng hàng chục tấn chỉ xếp chồng lên, không có chất kết dính. Điều làm đau đầu các nhà nghiên cứu là công trình vĩ đại đó hoàn thành trong vòng chỉ có 3 tháng vừa thiết kế lẫn thi công, điều đó thể hiện trình độ xây dựng độc đáo, bàn tay tài hoa, sức lao động sáng tạo tuyệt vời của các “nghệ nhân” thời bấy giờ.
Hé lộ những bí mật

Tháng 7/2011, chỉ sau 1 tháng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, các cán bộ chuyên môn của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ đã phát hiện một trong những công trường khai thác đá cổ chính để xây thành, những ẩn số cùng những huyền tích kỳ bí đang dần hé lộ. Qua công tác nghiên cứu, khảo sát vùng đệm cảnh quan của di sản thành nhà Hồ, Trung tâm Bảo tồn Di sản thành nhà Hồ đã phát hiện công trường khai thác đá cổ, ở núi Phù Lưu thuộc hệ thống dãy núi An Tôn, thôn Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, cách cổng phía Bắc thành khoảng 2 km.

Núi An Tôn, thuộc thôn Phù Lưu, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc là nơi phát hiện công trường khai thác đá cổ xây thành nhà Hồ

Các viên đá phát hiện được phân bố trên một phạm vi rất rộng, chạy dọc chân và sườn Đông-Nam của dãy núi Phù Lưu, bắt đầu từ kênh Nam (kênh tưới tiêu), đến tận đầu làng Phù Lưu, song song với con đường chống bão lụt của làng. Đây là 1 núi đá vôi, được chia thành những vỉa, theo kiểu đoạn tầng từng lớp, từng lớp rất thuận lợi cho việc bóc tách. Theo Giáo sư Lưu Trần Tiêu - Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hoá quốc gia Việt Nam “Những phiến đá có trọng lượng lớn, bề mặt có nhiều vết xước, vết dăm do chế tác thủ công, bước đầu cho thấy, nhà Hồ đã khai thác đá ở đây để xây thành. Đây là phát hiện mới đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý, bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị di sản thành nhà Hồ”. Cho đến thời điểm hiện nay, đã phát hiện hơn 20 phiến đá lớn, các phiến đá này do những phần lỗi kỹ thuật như vỡ cạnh, góc nên đã bị bỏ lại và không sử dụng. Qua khảo sát ở bề mặt sườn và chân núi, phát hiện được rất nhiều mảnh dăm đá, ken dày đặc lẩn với đất, chìm sâu trong lòng đất. Điều này chứng tỏ sau khi được bóc tách khỏi núi, nhà Hồ đã cho chế tác tại chỗ sau đó mới vận chuyển về xây thành. Một số viên đá được phát hiện có hình dạng, kích thước rất vuông vắn, kỹ thuật tương đồng với các phiến đá tại thành nhà Hồ. Các viên đá này được ghè, đẽo hết sức công phu, được chế tác từ 3-4 mặt phẳng, dấu vết đục đá vẫn còn khá rõ. Khu vực phát hiện nhiều các phiến đá cổ tại thung lũng có tên gọi dân gian là Thung Chẹt, Đản Hót hay Thung Án Ngựa với 10 phiến đá lớn. Bằng quan sát trực quan, có thể nhận thấy tại thung lũng này, nhà Hồ đã cho khai thác rất nhiều đá tại đây. Các phiến đá đã được lấy đi còn để lại dấu vết bóc tách trên các vách núi, với nhiều kích thước, hình dạng khác nhau, trong đó có nhiều viên được sơ chế, tu chỉnh với hình dạng tương đối vuông vắn. Tiến sĩ Tống Trung Tín, viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam cho biết: Phát hiện này đặc biệt quan trọng nhằm tôn vinh tính xác thực của kỹ thuật xây dựng đá lớn rất khéo léo và kỳ công. Bên cạnh đó, đã trả lời được câu hỏi “đá xây thành được lấy ở đâu” mà từ nhiều năm nay vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng.

Mặc dù hiện nay, chưa có căn cứ khoa học hay thực nghiệm để khẳng định nhà Hồ sử dụng con đường giao thông nào đường bộ, đường thuỷ hay kết hợp cả 2. Tuy nhiên, căn cứ vào những tư liệu dân gian như truyền thuyết con đường Cống Đá, Bí đá, con lăn, Bến đá tại sông Mã nơi tập kết đá… và đặc biệt là vị trí thuận lợi của khu vực núi An Tôn so với sông Mã và núi An Tôn so với thành nhà Hồ, các nhà khoa học tạm thời đưa ra 2 giả thuyết về việc vận chuyển đá về xây thành: Đá được vận chuyển từ núi An Tôn xuống sông Mã đưa lên bè và chở xuôi dòng xuống khu vực Bến Đá, từ đây đá được vận chuyển theo đường Cống Đá để xây thành. Giả thuyết thứ 2, rất có thể nhà Hồ đã vận chuyển đá trực tiếp từ núi An Tôn bằng đường thuỷ, theo như truyền thuyết thì trước đây khu vực phía Bắc của Hoàng thành là một vùng đầm lầy. Phải chăng ý tưởng nhà Hồ cho đào Mau An Tôn, ngoài mục đích là muốn nối thành tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng giữa khu vực Hoàng thành với sông Mã, còn có ý tưởng cho việc phục vụ vận chuyển đá xây thành bằng đường thuỷ?

Với kết quả của việc khảo sát và phát hiện công trường khai thác đá, bước đầu giải mã được huyền thoại xây thành.

Bí mật về đôi rồng đá mất đầu 

Từ cổng phía Nam, đi sang cổng phía Bắc của tòa thành, mọi người rất dễ dàng nhận ra ở ngay trung tâm tòa thành có đôi rồng đá được đặt song song nhưng đã bị mất đầu. Thế nhưng theo tài liệu ghi lại tại trung tâm di sản thành nhà Hồ thì sau khi nhà Hồ thất thế, đôi rồng đá cũng biến mất. Mãi đến năm 1938, một người nông dân trong lúc cày ruộng trong nội thành đã phát hiện tượng rồng đầu tiên. Nghĩ là rồng trong cung vua thì phải có cặp nên dân làng đã đào bới khắp vùng mới thấy được tượng rồng thứ hai.


Đôi rồng này làm bằng chất liệu đá, được khắc rất tỷ mỉ, thân rồng thon nhỏ, uốn bảy khúc, vây và lưng đều, nhỏ, trông rất đẹp. Rồng có 4 chân, mỗi chân có 3 móng với các vân mây mềm mại. Phần đầu của đôi rồng đá này đã bị mất, giờ chỉ còn bờm uốn lượn chín nếp. Dưới phần bụng được trạm trỗ những ô tam giác nhỏ có để hình hoa cúc và móc hoa ghép nhau tạo thành bậc.

Điều khó hiểu là tại sao rồng lại không có đầu? đầu rồng bị ai chặt? nhưng vẫn chưa có một câu trả lời thỏa đáng. Xung quanh về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, xưa kia nhà Minh sang sâm lược đã chặt đầu rồng - biểu tượng của nhà Hồ đã đi vào giai thời diệt vong, chấm dứt vương triều Hồ. Có người lại bảo do chính những người bất đồng với chính sách nhà Hồ gây ra. Ý kiến khác cho rằng, vào thời thực dân pháp đô hộ, người Pháp bắt nhân dân trong vùng hàng tháng, hàng năm phải trải chiếu hoa từ cổng thành đến đôi rồng đá. Quá bức xúc về việc này nên dân làng đã chặt đầu rồng? Nhưng theo câu truyện dân gian, thì ngày xưa ở làng Xuân Giai, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc ( nằm cạnh ngay cổng thành phía Nam) thường hay xảy ra các vụ cháy nhà, người dân nghi là rồng quay đầu về làng phun lửa nên đã chặt đầu rồng đi. Tất cả muôn vàn câu hỏi về việc này khiến dư luận xôn xao bàn tán. Ai ai cũng rỉ tai nhau về nhiều điều huyễn hoặc xung quanh đôi rồng bị mất đầu này.

Tiến sĩ Đỗ Quang Trọng – trưởng ban quản lý di tích thành nhà Hồ cho hay: “ hiện nay vẫn chưa rõ tại sao đôi rồng đá lại bị mất đầu, và cũng không biết giờ tìm đầu rồng ở đâu”.

Như vậy, bí ẩn về đôi rồng mất đầu vẫn chưa ai trả lời được. Tại sao rồng lại mất đầu, ai chặt đầu rồng, hiện đầu rồng đang ở đâu thì đó vẫn đang còn là một điều bí ẩn.

Thành nhà Hồ dẫu chỉ giữ vai trò là trung tâm quyền lực trong một thời gian ngắn (1400-1407) nhưng đây là một công trình kiến trúc độc đáo, một di sản quý báu trong số những công trình thành cổ ở Việt Nam.                              

Trấn Nam

Quái lạ chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi...tự hiến thân!

Tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), có những cây ổi quái dị, bởi hễ cứ gãi vào là “cười”. Nhưng, ở địa danh đặc biệt này còn nhiều loại cây quái lạ khác.

Trong rừng cây cổ kính có rất nhiều điều thú vị. Cây Đa Thị, nằm ngay phía Tây Nam sân rồng của di tích Lam Kinh. Cây đa này cao chừng 50m, cành gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân. Cây Đa Thị đặc biệt ở chỗ gốc đa ôm lấy gốc thị. Tuy là hai cây cho hai loại quả nhưng chỉ có chung một gốc, cùng bạc phếch màu như đã lẫn thân vào thành một khối.


Cây đa thị

Những năm trước đây, cây thị vẫn cho nhiều quả, tuy nhỏ và có vị chát nhưng rất thơm. Căn cứ theo những biến cố thăng trầm của Lam Kinh, cây đa được ước tính chừng 300 tuổi.

Cây thị được cho là có trước, già hơn cây đa, đã chết năm 2007, chỉ còn lại thân gỗ khô. Người xưa cho rằng, chim chóc thường về đậu trên cây thị, có mang theo quả đa về ăn nên rơi hạt mà mọc lên cây đa. Đa lớn nhanh, ôm lấy gốc thị.

Có lẽ cây thị đã quá già và cây đa thì ôm quá chặt nên thị không chịu nổi. Hay như cây sui cao nhất vùng, hơn 60m, chừng 600-700 năm tuổi,

Người xưa, nhất là đồng bào vùng cao coi trọng cây sui vì vỏ cây bóc ra làm chăn giữ ấm mùa đông (“Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”– Tố Hữu).

Cây sui

Dường như cây Sui là một cột thu lôi sống. Trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” có ghi chép nhiều chuyện sét đánh ở Lam Kinh làm chết cây, cháy nhà. Hàng năm, tại đây sét thường đánh chết những cây xung quang cây sui. Nhưng điều đặc biệt cây sui không hề hấn gì. Mọi người cho rằng: Cây sui như một cột thu lôi hút linh khí vần vũ giao hòa của trời đất nên đã được bảo vệ!? Có ý kiến lại cho rằng: Cây sui được trồng để đánh dấu một vị trí đặc biệt quan trọng của khu tông miếu nhà Hậu Lê, rất có thể là ngôi mộ thực táng Hoàng đế Lê Lợi...?!.

Đặc biệt, cây lim cổ thụ, cao nhất nhì rừng Lam Kinh, được người dân địa phương gọi là cây "Lim cò" vì trước đây cò về đậu trắng cây. Điều lạ lùng hay sự trùng khớp ngẫu nhiên, cây lim đang xanh tốt bỗng nhiên vào tháng 2/2010 cây trút lá hàng loạt rồi chết khô, trong khi đó vào tháng 10 năm 2010 cung điện sẽ được khởi công xây dựng.

Gốc cây lim vừa khít với tiết diện tảng kê chân cột này. 

Ông Vũ Đình Sỹ- Phó trưởng Ban quản lý Lam Kinh kể về sự ngạc nhiên: Điều trùng hợp là thời điểm cây lim chết trùng với thời điểm Dự án phục hồi phỏng dựng Chính điện Lam Kinh được phê duyệt. Khi cây chết là lúc thiết kế thi công vừa hoàn thành.  Khi cây được hạ xuống, thông thường lim rất hay bị rỗng ruột, nhưng đằng này cây lại hoàn toàn đặc, rất thuận lợi cho việc làm trụ cột Chính điện với quy mô 9 tòa gỗ lim đồ sộ nhất Việt Nam. Chỉ một cây lim nhưng thân và cành đủ để làm một bộ gồm: cột cái, cột quân, cột góc và thượng lương để phục vụ Lễ phạt mộc khởi công cung điện vào tháng 10/ 2010. Đường kính phần gốc cây lim trùng khớp với gương tảng cột cái (xấp xỉ 0,8m), phần ngọn khoảng 0,65cm, vừa với gương tảng cột quân. Lý giải cho "sự ra đi" bất thường của cây lim, các cụ cao niên xung quanh khu di tích cho rằng:Dường như cây Lim cò 600 năm tuổi này sinh ra để phục vụ cho việc phỏng dựng Chính điện!.

Trên tấm bia Vĩnh Lăng đẹp nhất nhì Việt Nam được làm bằng đá trầm tích nguyên khối còn đặt tại Lam Kinh do quan Vinh Lộc đại phu Nhập nội hành khiển Tri tam quản sự Nguyễn Trãi phụng soạn, có đoạn chép về cụ tổ Lê Hối của Thái tổ Lê Lợi:

“… Một ngày kia đi chơi Lam Sơn, thấy có đàn chim bay lượn ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt liền dời nhà đến đây, được ba năm thành sản nghiệp, con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy”.

Lam Kinh hiện nay có 97ha rừng trên tổng diện tích 200ha, với rất nhiều rừng cổ, cây cổ thụ, chim chóc, rắn, thú, mỗi năm đón hàng trăm ngàn du khách về khói nhang, vãn cảnh.

Rắn hiện ở Lam Kinh có rất nhiều, đủ loại lớn nhỏ khác nhau. Những ngày đẹp trời, rắn thường bò ra thảnh thơi phơi nắng khắp sân Chính điện, nhưng tuyệt nhiên chưa cắn ai bao giờ.
Những chuyện kỳ lạ về cây xung quanh khu tông miếu Lam Kinh, để thấy, không phải người dân muốn tô vẽ chuyện hoang đường, mà như sự kính ngưỡng với người xưa và chốn thâm nghiêm mà gần gũi của một vương triều hiển hách trong lịch sử nước Nam.

Huyền bí cây ổi "cười" ở xứ Thanh

Cây cối trong khu di tích ẩn chứa nhiều sự huyền bí chưa lý giải nổi như cây ổi "cười" trong khuôn viên Vĩnh Lăng (Lăng mộ vua Lê Thái Tổ).

Khu di tích Lam Kinh tọa lạc trên diện tích 200ha, thuộc địa phận 2 huyện Thọ Xuân và Ngọc Lặc (Thanh Hóa). Thế đất nổi lên hình chữ Vương, thoai thoải như mai rùa. Khu lăng mộ vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi nằm trên đỉnh mai rùa. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Việt sử thông giám cương mục" mô tả: Lam Kinh nhà Lê ở phía Tây núi Lam Sơn, phía Bắc gối vào Dầu. Đầu thời Thuận Thiên lấy đất này làm Tây Kinh, cũng gọi là Lam Kinh, xây dựng cung điện trông ra sông, đàng sau hồ lớn giống hồ Kim Ngưu, các khe núi đổ vào hồ này. Lại có khe nhỏ bắt nguồn từ hồ chảy qua trước điện, ôm vòng lại như hình vòng cung, bắc cầu lợp ngói trên khe. Đi qua cầu tới cung điện...".

Trong khuôn viên rộng lớn có rất nhiều loài cây quý hiếm hàng trăm năm tuổi. Điều ngạc nhiên đến khó tin những cây này đều gắn liền với những câu chuyện ly kỳ. Ông Phạm Duy Đức, cán bộ khu di tích - người gắn bó gần trọn đời mình trong khu "Sơn lăng" cho biết: Cây cối trong khu di tích ẩn chứa nhiều sự huyền bí chưa lý giải nổi như cây ổi "cười" trong khuôn viên Vĩnh Lăng (Lăng mộ vua Lê Thái Tổ).

Vì sao cây "ổi Tàu" này lại biết "cười"?

Cây ổi nằm khiêm tốn ở góc phải khuôn viên Vĩnh Lăng, phía sau hàng tượng quan hầu và tượng con giống hiền từ đang chầu trước mộ vua.

Cây ổi khẳng khiu gầy guộc, cao chừng 3m, lá nhỏ, quả rất nhiều, nhỏ bằng ngón tay. Chờ gió thật lặng, lá trên các ngọn cây xung quanh im phăng phắc, ông nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay gãi nhẹ vào thân cây, di di đầu ngón tay như thể đang cù nách, gãi bàn chân người. 

Thật lạ, những chiếc lá nơi đầu nhánh cây bỗng giật giật rung rinh, lay động nhè nhẹ, trong khi cây cối xung quanh vẫn lặng im. 

Chúng tôi bắt chước ông Duy "cù" vào các nhánh cây khác, cũng thấy lá cây giật giật  rung rinh, lay động nhè nhẹ tương tự. "Cù" vào gốc thì gần như các lá phía đầu cành của cả cây rung động, giống như con người bị cù vào nách, cười rung cả người.

Ông Duy kể: “Cách đây 11 năm, nhà thơ Điền Ngọc Phách, quê Phú Thọ vào thăm cho biết ngoài đền Hùng có rất nhiều cây ổi Tàu như thế này nhưng điều lạ lùng là chỉ tại Vĩnh Lăng cây ổi mới có hiện tượng như thế này?” Để chứng minh cho những điều mình nói hoàn toàn là sự thật, ông Duy cho biết: Rất nhiều người thắc mắc, tỏ vẻ nghi ngờ vì họ cho rằng cũng có thể khi mình chạm tay vào do cây nhỏ nên tác động lên làm cây rung. Nhưng giải thích làm sao khi tay ông chạm nhẹ vào một cành, lạ lùng thay cành bên cạnh cũng rung lên bần bật.

Chứng kiến cây "cười", người thì vui thích, tò mò nhưng cũng có người thì tỏ ý sợ sệt, chắp tay vái khấn lầm rầm. Còn một điều lạ nữa, ông Duy bảo mọi người nhắm mắt, tịnh tâm cầm tay vào cành ổi thì thấy người đung đưa như đang ngồi trên võng.

Vỏ cây ổi này, khi tróc ra đem sắc thuốc dùng cho các cháu bé bị nóng, sốt rất hiệu nghiệm, quả của nó rất ngon.

Trong khu lăng mộ vua Lê Lợi không chỉ cây ổi Tàu biết cười, mà ngay cả cây ổi ta đã gần 40 tuổi cũng có hiện tượng tương tự. 

Cây ổi ta này cũng "cười" rung rinh cành lá. 

Quả thực, khi chạm vào thân cây, đặc biệt là điểm mấu giữa các nhánh thì lá cây lay động rất lạ, tuy không rõ rệt như kiểu cây xấu hổ (trinh nữ) cụp lá, nhưng bằng mắt thường hoàn toàn thấy được.

Ông Vũ Đình Sỹ, Phó trưởng Ban quản lý Lam Kinh xác nhận: Chuyện “cây ổi cười" trong Vĩnh Lăng là có thật. Nguồn gốc cây ổi là từ một người quê ở Nam Định tên là Trần Hưng Dẫn. Người này hiếm muộn con cái nên đến đây cầu tự vào năm 1933. Sau khi sinh được con, ông đã cung tín bốn con Voi, trồng hai cây long não, và một cây ổi. Nhưng mãi đến năm 1942, một người Pháp khi đến nghiên cứu ở Lam Kinh mới phát hiện ra việc cây ổi biết "cười".

Cây ổi gốc mới chết do già, các cán bộ khu di tích đã kịp chiết một số nhánh cây để giữ giống. Điều kỳ lạ là các cây "con cháu" này vẫn giữ “gien cười”.

Ông Sỹ cho biết thêm: Có một điều đặc biệt nữa là khi Ban quản lý chiết cành đem trồng ngoài khuôn viên Vĩnh Lăng thì cây không "cười" nữa.

Từ lâu, người dân địa phương tin rằng, do cây trồng nơi linh khí nên cũng mẫn cảm như người. Vậy nên, có người còn gọi là “mộc tinh”. 

Thực hư chuyện núi thiêng xứ Mường

Thời gian gần đây, dư luận Thanh Hoá xôn xao về chuyện ở ngôi làng kỳ lạ xứ Mường (Thôn Đồng Hội, xã Thành Công, Thạch Thành - Thanh Hóa) rằng, cứ người dân mặc áo, đội mũ màu trắng đều bị đau ốm, bệnh tật và gặp tai ương…, thậm chí  đàn cò trắng bay ngang qua hang núi cũng bị rơi xuống đất… 

Ngôi miếu thờ “Nàng Áo Trắng” ở làng Đồng Hội

Truyền thuyết núi Bạc 

Hang núi Bạc nằm ngay dưới chân núi Đá Bạch thuộc thôn Đồng Hội, xã Thành Công. Những bí ẩn về hang núi Bạc được gắn với truyền thuyết về mối tình giữa sơn nữ “Nàng Áo Trắng” và vị thần Cao Sơn ở thời Hùng Vương thứ 18.

Cụ Quách Thế Thanh (80 tuổi) ở Đồng Hội cho biết: Theo cha ông kể lại, ngày xưa ở làng này có một sơn nữ áo trắng sống một mình trong hang núi. Đến lúc loạn lạc, xuất hiện một tướng quân tên Cao Sơn đem quân đến đây dẹp giặc nên hai người đã gặp và nảy sinh tình cảm với nhau. Sau đó, họ kết duyên vợ chồng.

Họ sống với nhau chưa được bao lâu thì quân giặc tấn công bất ngờ. Cao Sơn và đoàn quân đã hi sinh để bảo vệ dân làng, duy có “Nàng Áo Trắng” sống sót bởi có sắc đẹp như tiên nữ. Tướng giặc tìm mọi cách để chinh phục trái tim nàng, kể cả những thủ đoạn hèn hạ nhất, nhưng tất cả đều vô ích, “Nàng Áo Trắng” dành trọn tình yêu cho người chồng đã mất. Về sau, vì quá đau buồn, người phụ nữ này trốn vào rừng tự vẫn hóa thành núi Đá Bạch.

Người dân nơi đây chứng kiến nhiều chuyện lạ xuất hiện xung quanh hang núi Đá Bạch, từ chuyện đàn cò trắng bay ngang qua cửa hang bị rơi xuống đất, đến chuyện người dân mặc áo, đội mũ màu trắng đều bị đau ốm, bệnh tật và gặp tai ương… Người dân nơi đây cho rằng những điều này nhất định liên quan đến “Nàng Áo Trắng”. Vì vậy, họ lập miếu ngay dưới chân núi Đá Bạch để thờ cúng nàng và thần Cao Sơn. Cũng từ đó, dân làng không ai dám mang bất kỳ thứ gì màu trắng theo người khi đến quanh hang núi trồng trọt, lấy củi.
Không những thế, khi đến quanh miếu, người dân còn kiêng nhắc đến từ “trắng” và thay đổi thành từ “bạc” hay “bạch”. Ngày xưa, ngọn núi này gọi là núi Đá Trắng nhưng từ khi những câu chuyện kỳ lạ này xuất hiện người dân mới đổi thành núi Đá Bạch.

Những câu chuyện lạ

Cụ Thanh cho biết từng chứng kiến điều lạ lùng ở hang núi Đá Bạch hồi những năm 1950 khi cụ còn là một thanh niên trai tráng. Cụ Thanh kể: “Hang núi Bạc nằm ngay phía sau làng, đường lên rất khó khăn, dốc tiếp dốc, vực nối vực. Hôm tôi cùng mấy cụ cao niên trong làng khai phá đường lên hang núi để chọn hướng dựng miếu thì xảy ra chuyện lạ. Trong khi mọi người leo vào đến cửa hang một cách dễ dàng, tôi lại không tài nào đi lên được. Cố gắng bám chắc từng khối đá dây rừng mà đi mãi vẫn quay trở lại vị trí cũ. Khi đó, mọi người mới nhận ra tôi mặc cái áo màu trắng trên người”.

Một câu chuyện cũng mang màu sắc không kém phần liêu trai nữa được người dân kể lại rằng: Ngày xưa, có người phụ nữ vào rừng tìm hái cây thuốc ở quanh miếu, bà nhìn thấy một hòn đá nhẵn, nhỏ gọn nên đã bê về nhà làm đá mài. Không ngờ, ngay đêm hôm đó người phụ nữ đột nhiên ốm nặng. Mọi người đều cho rằng, nguyên nhân chính từ hòn đá nên khuyên đem đặt chỗ cũ rồi tạ tội với thần linh. Lập tức, gia đình người phụ nữ này bê hòn đá đến đặt chỗ cũ và thắp hương vái lạy. Không ngờ, người phụ nữ bỗng chốc khỏi bệnh.

Theo một cao niên trong làng, hòn đá ở gốc cây si chính là hòn đá mài năm xưa tướng Cao Sơn và quân lính dùng để mài gươm đánh giặc. Bên trên hòn đá mài có nguồn nước trong mát chảy ra chưa bao giờ cạn.

Bà Bùi Thị Đạo (55 tuổi) ở Đồng Hội, kể: “Hòn đá này còn dự báo được người chết ở làng thông qua hiện tượng tự tiết ra những giọt nước màu đen sẫm. Nếu thấy hiện tượng này, nhất định vài ngày sau trong làng sẽ có đám tang”.

Anh Quách Văn Thượng, Phó Chủ tịch xã Thành Công  cho biết: “Chuyện người làng Đồng Hội thờ cúng “Nàng Áo Trắng” và thần Cao Sơn là có thật. Sự tích về câu chuyện này tôi cũng đã được nghe, chỉ là truyền miệng qua các đời mà thôi”.

Ông Quách Công Đạm (56 tuổi) người phụ trách trông coi hai ngôi miếu của làng cho biết: “Đồng Hội là một vùng đất gắn với truyền thuyết. Các câu chuyện tâm linh cứ thế được truyền từ người này sang người khác. Còn chuyện về đàn cò bay ngang qua cửa hang “bạc” bị rơi rụng xuống đất chỉ là câu chuyện xa xưa, không rõ nguồn gốc và cũng cũng chẳng ai chứng kiến. Và chuyện những ai mặc đồ trắng không thể bước đến cửa hang chỉ là tin đồn. Vẫn có những người mặc áo trắng đi qua mà có sao đâu?”.

Thanh Hoá: Sự tích về giếng rắn thần

Từ bao đời nay, người dân làng Chiềng, xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa) vẫn truyền tai nhau truyền thuyết đượm màu huyền bí: Sự tích chàng rắn đền ơn bố nuôi của mình bằng một đôi giếng với nguồn nước trong xanh, không bao giờ cạn...
Từ đó, dân làng thoát khỏi cảnh khô hạn, mất mùa vì nguồn nước ấy đã phục vụ sinh hoạt, sản xuất, đem lại ấm no. Tiếng lành về đôi giếng rắn thần ở làng Chiềng ngày một vang xa khiến rất nhiều người hiếu kỳ...


Chuyện của người giữ gia phả

Chúng tôi từ thành phố vượt hơn 100km tới làng Chiềng để được nhìn tận mắt, nghe tận tai mới thấy sự huyền bí khó giải đáp được những sự việc quanh đôi giếng thần.
Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, đôi giếng thần đã được ghi chép trong gia phả của dòng họ Cao từ nhiều thế hệ nay nên chúng tôi tới làng Quang Áo, tìm gặp Trưởng họ là ông Cao Viết Hội. Theo lời kể của ông Hội: Cụ tổ ông là người địa phương, ban ngày ông thường đi làm công việc đồng áng, nương rẫy. Đêm đến, ông lại đi kéo vó ở các khe suối xung quanh vùng. Một hôm trời tối đen như mực, ông đưa vó xuống kéo cá ở một vũng nước sâu. Đêm đã khuya mà chưa được một con cá nào. Ông định ra về thì vớt được một quả trứng to bằng quả trứng gà. Ông trở về nhà đặt quả trứng vào cho gà ấp. Bỗng một hôm ông nghe gà cục tác, nhìn vào ổ gà thì thấy một con rắn nhỏ nhưng có mào khác lạ. Ông nuôi con rắn và bắt tôm cá về cho nó ăn. Lớn lên, nó cuốn trên cán cuốc, trên cái bắp cày, ông vác nó ra đồng đi kiếm ăn. Cứ thế, ông đi đâu nó theo đó.

Giếng nữ

Khi rắn đã lớn, ông nói: Giờ con đã lớn, bố đưa con ra sông Mã để con chọn nơi đậu lại. Rắn đồng ý. Phải mất nhiều ngày và một số nơi, rắn mới chọn được vực Cả để ở lại. Ông và rắn từ biệt nhau từ đây. Thời gian sau đó, do hạn hán kéo dài, bà con làng Chiềng không có nước mà sinh hoạt. Biết chuyện, vì tưởng nhớ đến tình xưa, rắn đào một con đường hầm thông từ sông Ngang (sông Bưởi) để dẫn nước về làng. Hôm ấy, làng Chiềng tự nhiên tối sầm, giữa làng đùn lên hai vó nước. Nước chảy ngày càng mạnh, cá tôm tuôn theo dòng nước. Hai dòng nước này đủ cho cả làng dùng quanh năm, lại còn đủ nước tưới cho cánh đồng, không bao giờ cạn. Mùa đông, nước bốc hơi ấm, mùa hè mát rượi. Để nhớ ơn rắn, bà con nhân dân lập bia và xây miếu thờ. Khi ông mất, người ta bỗng thấy trời tối lại. Mây kéo đến, gió giật ầm ầm. Hôm đó, người ta thấy rắn nằm trên kèo nhà, nước mắt chảy ròng ròng đỏ như máu. Bà con cho rằng, rắn về khóc bố. Từ đó không thấy rắn xuất hiện nữa.

Toàn cảnh khuôn viên đôi giếng thần

Để minh chứng lời kể của mình, ông Hội mở tủ lấy ra một hộp gỗ đã ngả màu. Ông mở tủ lấy ra tấm giấy bản màu vàng. Trên đó có đóng dấu đỏ và các con chữ màu đen, bằng văn tự tiếng Hán. Theo ông Hội, đây là tấm gia phả được truyền lại từ nhiều đời nay ghi lại tích rắn thần. Trên xà nhà ông còn gác chiếc kiệu rước rắn sơn màu đỏ. Hàng năm, dân làng đều làm lễ rước từ giếng vào nhà ông rất long trọng. Trong gia phả của dòng họ Cao còn ghi chép rằng: Vào ngày 8-11 năm thứ 3 đời vua Duy Tân, vua đã phong cho rắn là "Phong Vương Hạ đẳng thần". Để tưởng nhớ tích xưa, người dân làng Chiềng đã cử người trông nom quét dọn đôi giếng thần. Người ta còn trồng cây, lập bia để thờ.

Những chuyện lạ chưa có lời giải

Quay trở lại, chúng tôi háo hức để khám phá đôi giếng thần.Đôi giếng lát bằng những phiến đá phẳng lì, được xây bao quanh, bốn phía là những cây si cổ thụ uốn lượn. Hai miệng giếng chỉ vài m2. Đứng ở phía ngoài nhìn vào, nước có màu xanh giống màu mắt rắn. Ở giữa có một rãnh khoảng 20cm cho nước chảy ra ngoài. Nước trong giếng cứ đều đặn chảy ra. Trong khuôn viên có một bia đá, chữ khắc trên bia là chữ Hán đã mờ không nhìn rõ nét.

Bia đá trong khuôn viên

Ông Cao Viết Bảo, người được bà con làng Chiềng giao cho nhiệm vụ trông nom giếng cho biết: Chưa khi nào đôi giếng này cạn nước, kể cả khi hạn hán nhất, giếng cả vùng khô thì ở đây vẫn đầy nước. Nguồn nước sinh hoạt của bà con chủ yếu trông chờ từ đôi giếng này. Lúc đó, dân làng phải dùng xe bò chở thùng phuy, xô để lấy nước về sinh hoạt. Nhiều năm nay, người dân nơi đây vẫn luôn lấy nước từ đôi giếng này. Lạ là hút đến đâu, nguồn nước lại ùn ùn trào dâng đến đó, dù từ miệng giếng xuống đáy chỉ sâu có 2,5m. Mùa hè thì nước trong vắt nhìn thấy đáy, mát rượi. Mùa đông thì nước ấm như có người nấu vậy, có hôm còn bốc hơi khói nghi ngút. Có lạnh đến mấy, dân làng vẫn ra đây tắm bình thường. Nếu nước ở sông Bưởi đục thì nước giếng cũng đục khiến nhiều người liên tưởng đến tích xưa, rằng rắn thần đã đào một mạch nước ngầm từ sông Ngang (tức sông Bưởi) để dẫn nước về làng.  Năm 1990, trong lúc dân làng tu bổ lại giếng, do sơ ý lấy xẻng dính vôi rửa xuống giếng khiến cho nước trong giếng sôi sùng sục màu trắng. Hai bên thành giếng nước chao qua chao lại như có sóng ngầm vậy. Cánh thợ phải làm lễ cúng bái thì giếng mới trở lại bình thường. Người dân đặt giếng phía trong là giếng cái, giếng ngoài là giếng đực. Con gái trong làng được tắm bằng nước giếng, càng lớn da dẻ càng trắng, mịn màng, còn con trai tắm thì ngày càng cường tráng, hết bệnh tật. Vì  thế, người ta gọi nước giếng là "nước tiên". Điều đó càng làm cho đôi giếng trở nên huyền bí.

Từ đôi “giếng thần” này, hằng năm vào đêm giao thừa, cả làng Chiềng lại tụ tập quanh giếng đốt lửa, hát hò, nhảy múa. Đúng thời khắc giao thừa, người cao niên nhất trong làng dâng một mâm cỗ gồm: Một con gà (phải là gà trống tơ), xôi, hoa quả, một chai rượu… làm lễ cúng “giếng thần”. Lễ cúng kết thúc, lộc được chia đều cho tất cả những người có mặt. Thế rồi, tất cả người dân làng Chiềng tuần tự mỗi người lấy một ít nước từ đôi “giếng thần” mang về nhà để cầu may mắn đầu năm. Tập tục đó đã trở thành thông lệ và không chỉ có người dân ở làng Chiềng, mà còn rất nhiều người từ nơi khác đến lấy nước từ đôi “giếng thần” vào đêm 30 Tết mang về nhà.

Người dân tộc Mường nơi đây tin rằng, những đôi trai gái trong vùng nếu tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau tại “giếng thần” sẽ gặp được hạnh phúc, ấm no. Thực chất, những truyền thuyết và niềm tin của dân làng Chiềng về đôi “giếng thần” nơi đây có linh ứng hay không thì không thể kiểm chứng. Song, sự thật về nguồn nước trong xanh, không bao giờ cạn nơi đây lại là một hiện thực, đem lại nguồn lợi cho cuộc sống của người dân làng Chiềng trong sinh hoạt và sản xuất.

Câu chuyện lạ về 3 con rồng thiêng ở Hà Trung Thanh Hóa

[Thanh Hóa trong tôi] - Rồng đất là con gì? Hình thù ra làm sao? Và tại sao người dân nơi đây lại thờ cúng chấp tay vái lạy như thế kia? Thực hu chuyện "Thấy tiên thì dễ thấy rồng phúc lộc trăm năm" ra sao? Mời các bạn tìm hiểu qua câu chuyện lạ xứ thanh: "Cả họ vái lạy 3 con rồng đất" dưới đây...

Câu chuyện lạ về 3 con rồng thiêng ở Hà Trung Thanh Hóa

Anh Nguyễn Văn Lợi - người trông coi khu lăng tẩm nhà Nguyễn và cũng chính là người bắt được ba con rồng kể lại rằng: “Khi tôi đang dùng máy múc khai phá diện tích đất hoang bên dìa bờ sông Vực để trồng trọt thì phát hiện từ trong bụi rậm có tiếng động. Tôi tò mò tiến lại gần, thấy có con vật lạ rất đẹp nên tôi lao lại bắt nhưng nó nhanh chóng nhảy xuống sông. Tôi lội xuống theo và vất vả bắt được con vật này”.

Sau đó bốn ngày anh Lợi ra khai phá khu đất đang làm dở đã bắt được con vật tương tự nữa cách chỗ cũ khoảng 50m. Ít ngày sau cũng chính anh Lợi và ông Nguyễn Hữu Thoại - Chủ tịch Hội đồng trị sự dòng tộc Nguyễn Công Duẩn tiếp tục bắt được con vật lạ thứ ba tương tự hai con vật anh Lợi bắt được trước đó.

Tuy nhiên con vật thứ ba, ông Thoại và anh Lợi bắt được trên đỉnh núi gần khu lăng mộ Trường Nguyên. Ông Thoại và nhiều bậc cao niên ở xã Hà Long nhận định đây chính là ba con rồng đất. 

Vậy thực hư loài vật được cho là thiêng liêng này ra sao? Tại sao người dân nơi đây lại có vẻ như rất tôn thờ và sợ loại vật này đến vậy? Đây là câu hỏi đặt ra cho tất cả chúng ta!

Theo quan sát của chúng tôi, trong 3 con rồng có một con dài khoảng 80cm, hai con còn lại dài 70cm, mỗi con nặng khoảng 1kg. Trên lưng rồng có vây chạy dài đến 2/3 thân, đuôi rồng màu đen vàng giống rắn cạp nong. Bàn chân của ba con rồng đều có 5 ngón, các ngón đều có móng kiểu móng chân gà, hai bên mang có ria. Điều đặc biệt là ba con rồng đều thay đổi màu sắc theo thời tiết, thời gian và vị trí đặt rồng nằm.

Các bậc cao niên ở Hà Long đã tham khảo ý kiến của nhiều người khác, và làm lễ phóng sinh 3 con rồng này về núi Thiên Tôn sau khi đã vái lạy nó

Qua tìm hiểu sưu tầm, được biết rồng đất có tên trong sách đỏ Việt Nam. Ngoài tên khoa học Physignathus cocineinus, rồng đất còn có nhiều tên gọi dân gian khác như rồng tạng, tò te (Việt), đan gian, con rình rình (Mường), bùng nhỉ loòng (Dao), tu lủng lẳng (Tày), tu xả tảng (Thái)… Rồng đất thường ở trong hang hốc, trong các bụi cây ven bờ suối hoặc bên các vực nước trong rừng. Chúng di chuyển nhanh nhẹn trên mặt đất hoặc leo lên cây. Trong mùa lạnh, rồng đất chuyển lên trú trong các bọng cây để giữ nhiệt
Sưu tầm

Bí ẩn chờ giải mã


Với sự bí ẩn cùng với những câu chuyện mang đậm chất liêu trai đã giữ được vẻ tự nhiên, nguyên sơ "độc nhất vô nhị" của suối cá thần Cẩm Thủy





Nằm khép mình bên chân núi Trường Sinh hùng vĩ, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hoá; "suối cá thần" từ lâu luôn ẩn chứa những câu chuyện huyền bí xung quanh nguồn gốc của suối cá…Sự bí ẩn cùng với những câu chuyện mang đậm chất liêu trai đã giữ được vẻ tự nhiên, nguyên sơ "độc nhất vô nhị" của suối cá.


Bí ẩn chờ giải mã
 
Tạo hóa bí ẩn
Từ thế hệ này sang thế hệ khác, người dân ở đây vẫn truyền miệng về nguồn gốc của loài cá bắt đầu từ một truyền tích về thần rắn: Xưa có vợ chồng tuổi đã cao vẫn chưa có con. Một hôm người vợ đi xúc cá vô tình xúc được một quả trứng lạ. Bà mang về, vợ chồng bàn nhau đem cho gà ấp thử. Một hôm thấy gà cục tác, bà ra xem thì thấy trứng nở được một con rắn. Hoảng quá hai vợ chồng mang rắn ra suối Ngọc để thả, kì lạ thay cứ thả thì tối lại thấy rắn về nhà. Như một cơ duyên, hai vợ chồng quyết định nuôi rắn. Từ khi có rắn trong nhà, ruộng đồng có đủ nước cấy cày, cảnh hạn hán kéo dài trong vùng không còn. Chàng Rắn sống với gia đình và bản làng người Mường trong cảnh thanh bình, no ấm... Bỗng một đêm trời mưa to, sấm chớp ầm ầm, sáng ra dân làng thấy xác chàng Rắn nằm chết dạt vào chân núi Trường Sinh. Thương tiếc chàng Rắn, dân làng chôn chàng ngay dưới chân núi và lập đền thờ ngay trên mộ chàng. Sau đó dân làng được thần linh báo mộng cho biết, chàng Rắn đã đánh nhau với thủy quái về phá hoại bản làng và được Thượng đế phong thần hiệu "Tứ phủ Long Vương"... Cũng từ đó, suối Ngọc trước cửa đền thờ có đàn cá cả ngàn con ngày đêm về chầu và người dân trong vùng không bao giờ ăn cá suối Ngọc.
 
Bí ẩn chờ giải mã
Cửa hang cá ra vào.

Có rất nhiều câu chuyện lý giải về nguồn gốc của suối cá, các bậc cao niên trong làng lại giải thích rằng vào thế kỷ 19 có một trận lụt lịch sử đã đưa loài cá Dốc từ Sông Mã về sống tại suối Ngọc (con suối này nằm cách sông Mã chưa đầy 2km), gặp nguồn nước ấm chúng đã không quay trở về sông Mã nữa...?

Đến "Suối cá thần" chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi sự xuất hiện của hàng nghìn con cá. Hình thù của những con cá ở đây trông cũng rất khác lạ: mình giống mình cá trắm, bụng căng tròn, vẩy giống vẩy cá chép, môi màu phớt hồng, vây và đuôi màu đỏ rất bóng, có những con vây và môi đều phớt hồng trông rất đẹp.

Cá ở đây có nhiều kích cỡ, có những con chỉ bằng chuôi dao, nhưng cũng có những con khối lượng lên tới 7- 8kg. Người dân nơi đây cho biết, cá Chúa còn có khối lượng lên tới 30kg. Cứ mỗi buổi sáng, đàn cá lại từ trong hang chui ra như đã có hẹn từ trước. Đây là thời gian lý tưởng để khách thăm quan có thể chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của dòng suối bên chân núi Ngọc. Chiều tối, đàn cá lại rủ nhau về hang trú ẩn. "Suối cá thần" được bắt nguồn từ chân của dãy núi đá. Các loài cá ở đây thân thiện, gần gũi với con người và rất phàm ăn. Cá sống và sinh sản chủ yếu bằng thức ăn rong, rêu và các loại lá cây hai bên bờ suối rụng xuống như: lá dâu da xoan, lá cây long lạnh, lá bưởi, lá lim... (một loại lá rất độc).

Theo lời kể của người dân thì vào năm 1958 đã từng có người trong làng chui vào trong hang thám hiểm và cho biết trong lòng núi Trường Sinh có rất nhiều suối ngầm nông, sâu khác nhau, nước trong suốt. Trong suối ngầm lại chia thành hai dòng nước nóng- lạnh. Đàn cá bám theo dòng nước ấm và nơi lý tưởng nhất mà chúng tìm được là quanh khu vực có nguồn nước tinh khiết chảy ra từ dòng suối. Điều kỳ lạ dù là nơi thường xuyên bị lũ lụt nhưng cá trong suối không bao giờ trôi đi, khi nước lớn tràn vào suối, những con cá lớn chui vào hang, hốc để trốn, những con nhỏ nếu bị nước cuốn đi cũng có thể tự biết đường bơi trở lại.
Từ khi phát hiện ra "Suối cá thần" người dân trong bản đã lập ban thờ bên cạnh khu vực hang động nằm cách suối cá 10m để thờ Thần Cá.

Chuyện về cá mẹ :
Xung quanh suối cá kỳ lạ này có rất nhiều câu chuyện huyền bí được người dân kể lại: Có một đôi vợ chồng làng khác vì đói quá nên đã đến suối bắt "cá thần" về nấu ăn. Nhưng khi nấu lên không thấy cá đâu mà chỉ thấy một nồi nước trong veo, vợ chồng họ hoảng sợ quá nên mang lễ vật đến đền Ngọc thờ "Tứ phủ Long Vương" để xin thần cá cùng trời đất ân xá (?!).

Lại có câu chuyện đồn rằng có một đôi thanh niên từ thành phố Thanh Hóa lên xem "cá thần". Sau đó vì tò mò họ đã dùng đá đập chết một con cá, trên đường quay trở về, hai thanh niên đã gặp tai nạn và tử vong. Những người dân trong bản đều tin rằng nếu ai trêu đùa, làm hại cá thần hay làm bẩn nước, nhẹ sẽ bị ốm, còn nặng sẽ bị "mất mạng"? 
 
Những câu chuyện kiểu như thế xung quanh suối cá thần chưa được kiểm chứng nhưng chuyện người dân trong bản luôn xem loài cá này là cá thần và không dám ăn cá là có thật. Ông Nguyễn Văn Mạnh, người dân địa phương cho biết: Trên đầu nguồn suối Ngọc có một con cá mẹ nặng hàng trăm kg, là thủy tổ của cá suối Ngọc. Trước kia cá Mẹ thường hay xuống dạo chơi cùng các con nhưng bây giờ già yếu rồi nên không xuống nữa. Có người kể lại rằng cá Mẹ chỉ nằm một chỗ, ít khi di chuyển ra ngoài thung, khoảng 5 năm mới ra ngoài một lần và năm nào cá Mẹ xuất hiện thì dân quanh vùng đều được mùa, làm ăn phát đạt. Người dân địa phương cho rằng: Không phải cá ở đây không chết mà chúng có thể chết ở một hang hốc nào đó, hy hữu lắm mới thấy một vài con chết bên bờ suối.

Bà Nguyễn Thị Minh, 76 tuổi- người hay chôn cất cá cho biết: "Khi cá chết chúng tôi phải tế lễ để xin phép thần Rắn rồi mới được phép đem chôn, mộ của cá cũng phải được đánh dấu đàng hoàng". Trước đây, khi suối cá chưa trở thành khu du lịch người dân vẫn đến suối lấy nước dùng cho sinh hoạt gia đình bởi nước suối không hề có mùi tanh và luôn trong vắt, có thể nhìn thấy đá ở đáy suối.

Tiềm năng  du lịch cần đánh thức
Để vào được suối cá người ta phải đi qua một chiếc cầu treo bắc qua sông Mã. "Suối cá thần" đã làm cho phong cảnh bản Ngọc trở nên "sơn thủy hữu tình".
Bí ẩn chờ giải mã
Người dân đang xem và cho cá ăn.

Cá ở đây rất hiền, bơi một cách chậm chạp dưới dòng suối tĩnh lặng và trong vắt. Du khách sẽ luôn cảm thấy thoải mái trước nhịp sống rất chậm ở nơi đây, họ có thể cho cá ăn bỏng ngô, bim bim, các loại rau...Một số người hiếu kỳ còn lội xuống dòng suối vuốt ve sống lưng "cá thần". Thỉnh thoảng người ta còn đựợc chiêm ngưỡng hình ảnh những con cá to lớn nhảy lên khỏi mặt nước trông rất thích mắt. Đến bản Ngọc du khách không chỉ được tham quan "suối cá thần", mà còn có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc sản miền sơn cước như cơm lam, ngô nướng.

Tuy " Suối cá thần" được đánh giá là có tiềm năng du lịch nhưng trên thực tế vẫn chưa được đầu tư đúng mức và đồng bộ như những điểm du lịch khác trong tỉnh. Cơ sở hạ tầng còn đơn giản, đội ngũ hướng dẫn viên, nhiếp ảnh chưa được đào tạo bài bản, các nhà nghỉ, nhà trọ rất ít, chất lượng còn rất thấp.

Ngoài " Suối cá thần" (Mó Ngọc)  Cẩm Lương, trên địa bàn huyện Cẩm Thủy còn có " suối cá thần" (Mó Đóng) thuộc bản Rùng, xã Cẩm Liên cách thị trấn Cẩm Thủy 15km về phía Tây. Hai suối cá này ở hai bờ khác nhau của sông Mã. Gần đây nhất người dân đã phát hiện thêm một "suối cá thần" ở bản Chiềng Ban, xã Văn Nho, huyện Bá Thước - đây là "suối cá thần" thứ 3 được phát hiện ở Thanh Hóa.