Tài xế taxi Thanh Hóa trả lại 190 triệu đồng cho khách

Lãnh đạo Công ty cổ phần Bắc Trung Nam (TP Thanh Hóa) vừa tuyên dương, khen thưởng anh Đoàn Văn Minh (39 tuổi, trú tại xã Đông Tân, TP Thanh Hóa) là tài xế taxi của hãng vì có hành động trả lại 190 triệu đồng cho hành khách.

Lãnh đạo công ty tặng bằng khen cho tài xế Minh

Sự việc xảy ra vào khoảng 15h30 ngày 5.7, lúc này anh Lưu Văn Thanh có gọi xe taxi của một hãng xe dịch vụ đóng trên địa bàn từ phố Nhà Thờ, phường Đông Thọ đi về khu vực Trường THPT Dân tộc nội trú thuộc phường Đông Sơn, TP.Thanh Hóa thì xuống xe. Lúc này, anh Thanh có lấy đồ đạc của mình nhưng lại bỏ quên món đồ quan trọng nhất là chiếc cặp chứa 190 triệu đồng. Điều khiến anh Thanh hoảng hốt là phải 5 tiếng đồng hồ sau mới phát hiện ra việc mình bỏ quên chiếc cặp này.

Trong lúc đó, tài xế lái chiếc xe chở anh Thanh cũng không phát hiện chiếc cặp chứa nhiều tiền đang hiện diện trên ghế sau xe mình. Phải đến khi tài xế Đoàn Văn Minh đón lượt khách tiếp theo, anh mở cửa cho khách lên thì mới nhìn thấy chiếc cặp màu đen nằm dưới sàn xe với 4 cọc tiền mệnh giá lớn lăn ra ngoài. Ngay lập tức, anh Minh gọi điện báo về tổng đài tìm cách liên hệ với hành khách để trả lại số tài sản bỏ quên.

Hãng taxi đã lập biên bản tạm giữ số tiền 190 triệu đồng nêu trên và cuối cùng anh Lưu Văn Thanh cũng may mắn tìm thấy món đồ mình bỏ quên trong niềm vui khó tả. 

Ngày 10.7, đại diện hãng taxi có tài xế nhặt được chiếc cặp chứa 190 triệu đồng đã tổ chức tuyên dương, khen thưởng hành động trung thực của tài xế Đoàn Văn Minh (39 tuổi, trú xã Đông Tân, TP.Thanh Hóa). Theo lãnh đạo hãng taxi cho biết thì vào năm 2013, tài xế Đoàn Văn Minh từng trả lại một laptop và khoản tiền 50 triệu đồng cho một khách hàng ở TP.Thanh Hóa bỏ quên trên xe.

Thanh Hoá: Sự tích về giếng rắn thần

Từ bao đời nay, người dân làng Chiềng, xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa) vẫn truyền tai nhau truyền thuyết đượm màu huyền bí: Sự tích chàng rắn đền ơn bố nuôi của mình bằng một đôi giếng với nguồn nước trong xanh, không bao giờ cạn...
Từ đó, dân làng thoát khỏi cảnh khô hạn, mất mùa vì nguồn nước ấy đã phục vụ sinh hoạt, sản xuất, đem lại ấm no. Tiếng lành về đôi giếng rắn thần ở làng Chiềng ngày một vang xa khiến rất nhiều người hiếu kỳ...


Chuyện của người giữ gia phả

Chúng tôi từ thành phố vượt hơn 100km tới làng Chiềng để được nhìn tận mắt, nghe tận tai mới thấy sự huyền bí khó giải đáp được những sự việc quanh đôi giếng thần.
Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, đôi giếng thần đã được ghi chép trong gia phả của dòng họ Cao từ nhiều thế hệ nay nên chúng tôi tới làng Quang Áo, tìm gặp Trưởng họ là ông Cao Viết Hội. Theo lời kể của ông Hội: Cụ tổ ông là người địa phương, ban ngày ông thường đi làm công việc đồng áng, nương rẫy. Đêm đến, ông lại đi kéo vó ở các khe suối xung quanh vùng. Một hôm trời tối đen như mực, ông đưa vó xuống kéo cá ở một vũng nước sâu. Đêm đã khuya mà chưa được một con cá nào. Ông định ra về thì vớt được một quả trứng to bằng quả trứng gà. Ông trở về nhà đặt quả trứng vào cho gà ấp. Bỗng một hôm ông nghe gà cục tác, nhìn vào ổ gà thì thấy một con rắn nhỏ nhưng có mào khác lạ. Ông nuôi con rắn và bắt tôm cá về cho nó ăn. Lớn lên, nó cuốn trên cán cuốc, trên cái bắp cày, ông vác nó ra đồng đi kiếm ăn. Cứ thế, ông đi đâu nó theo đó.

Giếng nữ

Khi rắn đã lớn, ông nói: Giờ con đã lớn, bố đưa con ra sông Mã để con chọn nơi đậu lại. Rắn đồng ý. Phải mất nhiều ngày và một số nơi, rắn mới chọn được vực Cả để ở lại. Ông và rắn từ biệt nhau từ đây. Thời gian sau đó, do hạn hán kéo dài, bà con làng Chiềng không có nước mà sinh hoạt. Biết chuyện, vì tưởng nhớ đến tình xưa, rắn đào một con đường hầm thông từ sông Ngang (sông Bưởi) để dẫn nước về làng. Hôm ấy, làng Chiềng tự nhiên tối sầm, giữa làng đùn lên hai vó nước. Nước chảy ngày càng mạnh, cá tôm tuôn theo dòng nước. Hai dòng nước này đủ cho cả làng dùng quanh năm, lại còn đủ nước tưới cho cánh đồng, không bao giờ cạn. Mùa đông, nước bốc hơi ấm, mùa hè mát rượi. Để nhớ ơn rắn, bà con nhân dân lập bia và xây miếu thờ. Khi ông mất, người ta bỗng thấy trời tối lại. Mây kéo đến, gió giật ầm ầm. Hôm đó, người ta thấy rắn nằm trên kèo nhà, nước mắt chảy ròng ròng đỏ như máu. Bà con cho rằng, rắn về khóc bố. Từ đó không thấy rắn xuất hiện nữa.

Toàn cảnh khuôn viên đôi giếng thần

Để minh chứng lời kể của mình, ông Hội mở tủ lấy ra một hộp gỗ đã ngả màu. Ông mở tủ lấy ra tấm giấy bản màu vàng. Trên đó có đóng dấu đỏ và các con chữ màu đen, bằng văn tự tiếng Hán. Theo ông Hội, đây là tấm gia phả được truyền lại từ nhiều đời nay ghi lại tích rắn thần. Trên xà nhà ông còn gác chiếc kiệu rước rắn sơn màu đỏ. Hàng năm, dân làng đều làm lễ rước từ giếng vào nhà ông rất long trọng. Trong gia phả của dòng họ Cao còn ghi chép rằng: Vào ngày 8-11 năm thứ 3 đời vua Duy Tân, vua đã phong cho rắn là "Phong Vương Hạ đẳng thần". Để tưởng nhớ tích xưa, người dân làng Chiềng đã cử người trông nom quét dọn đôi giếng thần. Người ta còn trồng cây, lập bia để thờ.

Những chuyện lạ chưa có lời giải

Quay trở lại, chúng tôi háo hức để khám phá đôi giếng thần.Đôi giếng lát bằng những phiến đá phẳng lì, được xây bao quanh, bốn phía là những cây si cổ thụ uốn lượn. Hai miệng giếng chỉ vài m2. Đứng ở phía ngoài nhìn vào, nước có màu xanh giống màu mắt rắn. Ở giữa có một rãnh khoảng 20cm cho nước chảy ra ngoài. Nước trong giếng cứ đều đặn chảy ra. Trong khuôn viên có một bia đá, chữ khắc trên bia là chữ Hán đã mờ không nhìn rõ nét.

Bia đá trong khuôn viên

Ông Cao Viết Bảo, người được bà con làng Chiềng giao cho nhiệm vụ trông nom giếng cho biết: Chưa khi nào đôi giếng này cạn nước, kể cả khi hạn hán nhất, giếng cả vùng khô thì ở đây vẫn đầy nước. Nguồn nước sinh hoạt của bà con chủ yếu trông chờ từ đôi giếng này. Lúc đó, dân làng phải dùng xe bò chở thùng phuy, xô để lấy nước về sinh hoạt. Nhiều năm nay, người dân nơi đây vẫn luôn lấy nước từ đôi giếng này. Lạ là hút đến đâu, nguồn nước lại ùn ùn trào dâng đến đó, dù từ miệng giếng xuống đáy chỉ sâu có 2,5m. Mùa hè thì nước trong vắt nhìn thấy đáy, mát rượi. Mùa đông thì nước ấm như có người nấu vậy, có hôm còn bốc hơi khói nghi ngút. Có lạnh đến mấy, dân làng vẫn ra đây tắm bình thường. Nếu nước ở sông Bưởi đục thì nước giếng cũng đục khiến nhiều người liên tưởng đến tích xưa, rằng rắn thần đã đào một mạch nước ngầm từ sông Ngang (tức sông Bưởi) để dẫn nước về làng.  Năm 1990, trong lúc dân làng tu bổ lại giếng, do sơ ý lấy xẻng dính vôi rửa xuống giếng khiến cho nước trong giếng sôi sùng sục màu trắng. Hai bên thành giếng nước chao qua chao lại như có sóng ngầm vậy. Cánh thợ phải làm lễ cúng bái thì giếng mới trở lại bình thường. Người dân đặt giếng phía trong là giếng cái, giếng ngoài là giếng đực. Con gái trong làng được tắm bằng nước giếng, càng lớn da dẻ càng trắng, mịn màng, còn con trai tắm thì ngày càng cường tráng, hết bệnh tật. Vì  thế, người ta gọi nước giếng là "nước tiên". Điều đó càng làm cho đôi giếng trở nên huyền bí.

Từ đôi “giếng thần” này, hằng năm vào đêm giao thừa, cả làng Chiềng lại tụ tập quanh giếng đốt lửa, hát hò, nhảy múa. Đúng thời khắc giao thừa, người cao niên nhất trong làng dâng một mâm cỗ gồm: Một con gà (phải là gà trống tơ), xôi, hoa quả, một chai rượu… làm lễ cúng “giếng thần”. Lễ cúng kết thúc, lộc được chia đều cho tất cả những người có mặt. Thế rồi, tất cả người dân làng Chiềng tuần tự mỗi người lấy một ít nước từ đôi “giếng thần” mang về nhà để cầu may mắn đầu năm. Tập tục đó đã trở thành thông lệ và không chỉ có người dân ở làng Chiềng, mà còn rất nhiều người từ nơi khác đến lấy nước từ đôi “giếng thần” vào đêm 30 Tết mang về nhà.

Người dân tộc Mường nơi đây tin rằng, những đôi trai gái trong vùng nếu tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau tại “giếng thần” sẽ gặp được hạnh phúc, ấm no. Thực chất, những truyền thuyết và niềm tin của dân làng Chiềng về đôi “giếng thần” nơi đây có linh ứng hay không thì không thể kiểm chứng. Song, sự thật về nguồn nước trong xanh, không bao giờ cạn nơi đây lại là một hiện thực, đem lại nguồn lợi cho cuộc sống của người dân làng Chiềng trong sinh hoạt và sản xuất.

Về Thanh Hóa đi chợ phiên Phố Đòn

Trên hành trình khám phá Pù Luông xanh, nếu đi vào thứ 5 hoặc chủ nhật, du khách sẽ bắt gặp phiên chợ Phố Đòn còn nhiều nét đơn sơ, mang đậm chất vùng cao phía tây Thanh Hóa.

Phố Đòn là tên gọi khu chợ có từ thời Pháp thuộc tại xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi giao thương hàng hóa và gặp gỡ của đồng bào các dân tộc Kinh, Mường, Thái của các xã quanh vùng cùng người dân ở các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn... tỉnh Hòa Bình.




Trời tảng sáng, khu chợ trở nên đông đúc hơn.

Điều làm nên sức hút cho khách du lịch khi chơi chợ là nét văn hóa mua bán trao đổi hàng hóa ngang giá trị. Đôi khi, họ không giao dịch bằng tiền, chẳng hạn một con gà có thể đổi lấy hai chục trứng với mớ rau mà hai bên đều thấy thoải mái, vui vẻ. Chỉ cần “ưng cái bụng” là mua ngay, ít khi thấy trả giá, đòi thách.

Ngay từ sáng sớm tinh mơ, khi tiếng gà gáy canh một vang lên giữa đêm đen tĩnh mịch, dân từ các bản vùng cao đã í ới gọi nhau xuống chợ. Xa nhất phải kể đến người dân 3 bản Son – Bá – Mười, Kịt, Toong Hoong, họ phải vượt hơn 10 km đường rừng núi hiểm trở, gùi hàng hóa xuống họp chợ. Một số bản của Thành Sơn như Pả Pan, Eo Kén cũng phải đi bộ khoảng 3 giờ, hay dân xã Cổ Lũng phải dậy từ 5 giờ sáng, đi bộ 7 km mới tới nơi.

Quả óc chó ta, ăn rất tốt cho sức khỏe.

Chợ phiên Phố Đòn mang nét đặc trưng của phiên chợ vùng cao với các mặt hàng tự cung tự cấp là chủ yếu. Hàng hóa tuy đơn sơ nhưng khá phong phú về chủng loại với những sản vật như: Thổ cẩm, rượu cần, các loại rau rừng, côn trùng, hoa quả tươi…

Xuôi theo con dốc là những mặt hàng đặc trưng của đồng bào vùng cao. Đôi khi chỉ vài con chuột đồng, bó cải xoong nhà trồng được, con gà đồi, nải chuối xanh, mớ hạt cọ, vài thứ quả hái trong vườn hay tấm thổ cẩm mới dệt họ cũng không quản ngại đường xa mang đi họp chợ. Không khó để bắt gặp hình ảnh những phụ nữ bản cao gùi trên lưng cả yến su su, bí đỏ, mướp đắng, ngô, cải bắp hay nếp gạo nương... băng suối vượt rừng để cõng hàng xuống chợ.

Những "món" hàng đơn sơ nhà trồng được.

Với người dân ở đây, việc đi chợ không phải chỉ để mua, bán hàng hóa mà còn là dịp giao lưu văn hóa, gặp gỡ, hỏi thăm nhau. Bên cạnh đó, còn có nhiều người Kinh từ dưới xuôi lên mua các loại nông sản vùng cao và bán các mặt hàng thiết yếu như quần áo, cuốc xẻng, dụng cụ kim khí, xô chậu, chăn màn... phục vụ nhu cầu cho người dân bản địa.

Chợ phiên Phố Đòn góp phần làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần của người dân rẻo cao phía Tây tỉnh Thanh. Đồng thời, giúp lưu giữ những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc nơi đây.

Theo: Vnexpress

Nam sinh xứ Thanh với nghị lực phi thường

Mẹ mới mất vì căn bệnh ung thư, một mình “lều chõng” lên Hà Nội dự thi, vừa đặt chân xuống Hà Nội thí sinh Bùi Thanh Hải (1996, ở Thạch Thành – Thanh Hóa) vừa tới bến xe Mỹ Đình khi kiểm tra túi quần Hải hoảng hốt khi biết mình bị móc sạch tiền từ bao giờ. Tờ giấy báo dự thi em kẹp lẫn trong bọc tiền cũng “không cánh mà bay”.


Hơn 2 triệu đồng làm lộ phí đi thi của Hải đã không cánh mà bay

Trong túi Hải lúc ấy chỉ còn lại vài nghìn đồng tiền lẻ, dù rất hoảng sợ em cũng không dám gọi điện về báo cho bố biết. Hải bắt xe bus ra ở nhờ nhà bạn bên Gia Lâm và sáng ngày hôm nay em ra trường làm thủ tục dự thi. May mắn là giấy báo dự thi của em được nhà trường cung cấp lại và em được đội Tình nguyện Xung kích giúp đỡ nhiệt tình, ăn ở miễn phí tại KTX.

Nhắc đến chuyện gia đình, Hải nghẹn ngào: “Mẹ em vừa mới mất cách đây gần 3 tháng. Dù gia đình không ai ủng hộ em đi thi, mọi người bảo gia đình em khó khăn, bố em không thể lo cho 2 đứa ăn học. Ông bà khuyên em tốt nhất nên đi làm, bố cũng muốn em ở nhà đỡ đần gia đình, nuôi em trai nhưng em muốn hoàn thành nguyện vọng của mẹ. Trước khi mất mẹ dặn em phải cố gắng để thi đậu đại học”.

Đôi mắt Hải chợt đỏ hoe khi nhắc đến mẹ. Căn bệnh ung thư não đã mang mẹ em đi xa, Hải nói khi mẹ phát hiện ra bệnh thì đã ở giai đoạn cuối, hơn một tháng từ khi biết bệnh mẹ đã vội vã qua đời. Bố Hải giờ làm thợ xây, thu nhập thấp lại không ổn định, dưới Hải còn một em trai đang học lớp 9. Họ hàng, gia đình rất ít người ủng hộ em đi thi nhưng lời mẹ dặn đã tiếp thêm sức mạnh của chàng trai nhỏ bé này quyết tâm thi bằng được ĐH. 

Hải mới tiết lộ, hơn 2 triệu mang đi làm lộ phí, bố chỉ cho em có 200 nghìn đồng. Số còn lại do em tự làm thêm kiếm được. 

Hải được thu xếp để ăn ở miễn phí trong KTX của trường

Được biết Thi xong tốt nghiệp, do gia đình khó khăn, không có tiền cho em đi thi đại học, một thân một mình về Quảng Ninh rửa than thuê kiếm tiền làm lộ phí đi thi. Hơn 1 tháng làm việc em được trả hơn 2 triệu. Vậy mà bây giờ trong túi em đã không còn lấy một đồng, toàn bộ mồ hôi công sức đã bị kẻ gian lấy mất. Sáng nay Hải phải mượn tiền của bạn để bắt xe bus ra trường làm thủ tục dự thi.

Chàng trai nhỏ bé tâm sự: “Nếu đậu đại học em sẽ tự lo cho bản thân để học. Bây giờ em không còn tiền để về quê, em định thi xong sẽ ở lại tìm việc làm thêm để lấy tiền đi học”.

Có lẽ thời điểm này là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời Hải, nhưng tôi tin rằng, chàng trai ấy có đủ sức mạnh để vượt qua giống như cái cách em đã một mình đến Quảng Ninh làm thuê kiếm tiền đi thi. Mong rằng, mẹ em ở nơi xa xôi nào đó, sẽ tiếp thêm sức mạnh cho chàng trai xứ Thanh đầy nghị lực này thi đỗ đại học và có 1 tương lai tươi sáng hơn.

Theo: Tiin.vn

Bộ trưởng Thăng: Sẽ cho Cục trưởng Cục quản lý chất lượng giao thông Thanh Hóa “nghỉ” nếu còn để mưa ngập đường

Kiểm tra hoạt động đầu tư, thi công các dự án giao thông tại Thanh Hoá ngày 8/7, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng bức xúc “nạt”: Nếu vẫn để tình trạng đường ngập nước sẽ cho Cục trưởng Cục quản lý chất lượng công trình giao thông… nghỉ luôn.

Mỗi trạm thu phí “rải” một trạm cân xe

Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng (trái) kiểm tra các công trình trên tuyến quốc lộ 1A qua Thanh Hoá.

Tại cuộc làm việc với Bộ trưởng Đinh La Thăng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Lê Anh Tuấn báo cáo người đứng đầu ngành GTVT về tình hình kinh tế xã hội và công tác phối hợp giữa UBND tỉnh Thanh Hóa với Bộ GTVT về lĩnh vực GTVT trong 6 tháng đầu năm 2014.

Liên quan đến lĩnh vực GTVT và trật tự ATGT trên địa bàn, Phó Chủ tịch Lê Anh Tuấn cho đến nay, công tác giải phóng mặt bằng và tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh đã được triển khai hết sức quyết liệt. Với dự án quốc lộ 1A, tỉnh đã hoàn thành và bàn giao toàn bộ mặt bằng 62,7km cho nhà thầu thi công; đối với dự án QL15- Tiểu dự án 2 hiện đã bàn giao mặt bằng 18/23 km, đạt 78% khối lượng; dự án QL217 đã bàn giao 83,5/91,2 km mặt bằng, đạt 91,5%...

Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa cũng báo cáo lãnh đạo Bộ GTVT về những công việc giải quyết theo chỉ đạo của Bộ trưởng Đinh La Thăng trong thời gian qua về lĩnh vực vận tải, an toàn giao thông và các công việc liên quan.

Theo đó, 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra 387 vụ tai nạn giao thông làm 102 người chết, bị thương 346 người, tăng 9,3% số vụ, giảm 1% số người chết và 1,4 % số người bị thương so với cùng kỳ năm ngoái.

Với câu chuyện thời sự về xử lý xe quá tải trọng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, Đại tá Khương Duy Oanh báo cáo với Bộ trưởng Đinh La Thăng về vấn đề kiểm soát tải trọng xe trên địa bàn. Tỉnh đã họp, yêu cầu các doanh nghiệp vận tải cam kết tuân thủ quy định giới hạn tải trọng. Ông Oanh khái quát, khoảng 10 ngày sau ký cam kết, tình trạng cơi nới thành thùng xe đã cơ bản được cải thiện. Hiện công an tỉnh đang tập trung chỉ đạo việc xử lý vụ lái xe gây hư hỏng trạm cân vừa qua.

GĐ Sở GTVT Mai Xuân Liêm thông tin, đơn vị đã nhận thiết bị kiểm soát tải trọng về trong đợt đầu tiên nhưng mới làm được với tuyến đường tránh thành phố Thanh Hoá, còn toàn bộ tuyến đường phía bắc vẫn chưa kiểm soát (tuyến vận tải có nhiều xe tải nặng chở khoảng sản). Ông Liêm than khó khi chưa lắp được thiết bị cân xe vị trí tại Bỉm Sơn vì chưa tìm được vị trí đặt trạm cân.

Bộ trưởng GTVT gạt lý do đưa ra vì cho rằng Thanh Hoá đất rộng người đông như thế, không thể có chuyện không tìm được chỗ xe cân tải trọng. Ngoài ra, Bộ trưởng Thăng chỉ rõ, trạm cân lưu động không lý gì để nguyên một chỗ. Trường hợp cần thiết, cơ quan chức năng có thể điều động trạm cân để luân chuyển, giám sát đột xuất. Với đề xuất trang bị trạm cân ngay tại trạm thu phí Bỉm Sơn, ông Thăng đồng ý và yêu cầu rà soát lại quy hoạch các trạm kiểm soát tải trọng xe cố định, lắp đặt ngay hệ thống cân tải trọng tại các trạm thu phí BOT.

Cấm nợ lương công nhân

Dự án cầu Nguyệt Viên dự kiến hoàn thành vượt tiến độ 4 tháng.

Chuyển sang vấn đề chất lượng công trình giao thông, trong đó có chuyện hằn lún vệt bánh xe trên đường, người đứng đầu Bộ GTVT đề nghị lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá quan tâm giải quyết nốt mặt bằng cho các dự án mở rộng quốc lộ 1. Bộ trưởng Thăng quán triệt, đơn vị nào không dứt khoát dừng thi công khi bị “thổi còi” chất lượng có thể đề nghị khởi tố, truy tố trách nhiệm hình sự.

Những dự án do tỉnh làm chủ đầu tư, Bộ trưởng GTVT cũng yêu cầu phải đảm bảo chất lượng, khắc phục ngay những tồn tại trong tháng 7 (trước khi bước vào mùa mưa bão). Vấn đề đường lún, ông Thăng cũng nhắc, không chờ đến độ lún, chênh đến 5 cm mới xử lý mà nguyên tắc, đã lún là phải khắc phục. Ông Thăng cũng đồng ý cho kéo dài thời gian bảo hành với dự án có nghi ngờ về chất lượng.

Ông Trần Xuân Sanh - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng công trình giao thông - thông tin, về chất lượng quốc lộ 1A, ngay từ đầu năm, đơn vị đã nắm được hiện tượng hằn lún vệt bánh xe, sẽ chỉ đạo để xử lý triệt để đồng thời có biện pháp đảm bảo an toàn cho giao thông.

Tại cầu Nguyệt Viên (một công trình thuộc dự án mở rộng quốc lộ 1A), đại diện 2 nhà thầu Cienco 1, Cienco 4 báo cáo Bộ trưởng GTVT tiến độ thi công. Cụ thể, phần các nhịp dẫn, Cienco 4 sẽ hoàn thành vào ngày 20/8, phần đúc hẫng có khả năng chậm lại ít ngày.

Phần cầu, Cienco 1 cũng cam kết sẽ hoàn thành trước ngày 3/2 năm sau, tức tổng thời gian thi công dự án là 14 tháng, vượt 4 tháng so với kế hoạch Bộ GTVT đã giao.

Nghe báo cáo về tình hình công nhân hoạt động trên công trường, trung bình khoảng 600 công nhân/ngày, Bộ trưởng Đinh La Thăng lưu ý nhà thầu việc chăm lo đời sống cho người lao động. Bộ trưởng nhắc, trong mùa nắng nóng, chỗ ở cho công nhân, nước uống, nước sinh hoạt cần đảm bảo.

Đại diện Cienco 1 khẳng định, hàng ngày đều có chuẩn bị nước vối, nước gạo phục vụ trên công trường. Bộ trưởng Thăng “gật đầu” với thức uống giải khát là nước gạo lứt vì theo kinh nghiệm của dân công trường, đây là loại nước uống chống mất nước rất hiệu quả trong điều kiện thời tiết nắng nóng.

Ghi nhận những nỗ lực của các nhà thầu trên công trường dẫn đến kết quả tiến độ rất khả quan nhưng Bộ trưởng Thăng cũng nhắc lãnh đạo Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng công trình giao thông về việc vẫn để nước ngập dọc tuyến đường mới làm khi có mưa lớn.

“Lần sau tôi đi qua các anh vẫn để nước ngập thế tôi cho nghỉ luôn. Nhất định phải đảm bảo thoát nước vì cứ để như vậy thì hỏng hết đường, đầu tư sao cho lại” - Bộ trưởng Giao thông ra “tối hậu thư” cho đại diện Cục Quản lý chất lượng công trình giao thông.

Người đứng đầu ngành cũng nhắc về việc nhà thầu không vệ sinh đường, để rơi vãi cát sỏi, vật liệu 2 bên đường, gây nguy hiểm cho phương tiện lưu thông cũng như hiện tượng xe “hổ vồ” (xe quá tải) vẫn hoạt động sôi động trên đường. Bộ trưởng Thăng chốt hạn trong tháng 7 phải khắc phục những lỗi này. 

Theo Dân Trí

Pù Luông - “Sa Pa của xứ Thanh”.

Pù Luông ở điểm cực bắc của huyện Bá Thước. Danh sơn này nằm giữa hai xã Thành Sơn huyện Bá Thước và Phú Xuân, huyện Quan Hóa, trong không gian tự nhiên của vùng giáp ranh ba tỉnh Thanh Hóa  - Sơn La - Hòa Bình. Phía Đông, Đông - Bắc Pù Luông giáp với tỉnh Hòa Bình, gần kề với không gian của Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình). Phía Bắc, Tây - Bắc Pù Luông giáp với huyện Quan Hóa. Phía Nam Pù Luông giáp với vùng đồi Lai Li Lai Láng. Đây cũng là phía Bắc của thị trấn Cành Nàng, huyện lỵ Bá Thước.



Pù Luông cách TP Thanh Hóa hơn 180 km. Từ thành phố Thanh Hóa ngược lên phía Tây Bắc, theo đường 217 qua thành Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc); Cửa Hà (huyện Cẩm Thủy), phố huyện Bá Thước (thị trấn Cành Nàng) hơn 10 km là đến chân núi Pù Luông.

Dãy Pù Luông theo tiếng Thái nghĩa là núi cao. Dãy núi cao này nằm trong hệ thống núi vùng Tây Bắc Việt Nam - từ Sơn La, Hòa Bình tới Thanh Hóa và ra biển mà khu trung tâm là vùng đất thuộc tỉnh Thanh Hóa tiếp giáp với hai tỉnh: Sơn La, Hòa Bình.

Pù Luông là nơi hội tụ các núi đá vôi đồ sộ nhất xứ Thanh với nhiều đỉnh cao trung bình từ 800 đến trên 1.000m. Pù Luông là một trong những nơi cao nhất Bắc Trung Bộ. Khí hậu ở đây mát mẻ về mùa hè, lạnh giá về mùa đông. Cảnh quan thiên nhiên ở Pù Luông ngoạn mục, có phần huyền ảo. Không khí trong lành, mát mẻ vào mùa hè.

Địa bàn Pù Luông nằm trên “hành lang” của người Thái từ đất Mường Then (Điện Biên Phủ) vào xứ Thanh, xứ Nghệ và con đường giao lưu văn hóa của người Mường Trong và Mường Ngoài. Đối với người Thái xứ Thanh, một phần vùng đất phía Tây đồi Lai Li Lai Láng thuộc đất mường KaDa - một mường lớn, nổi tiếng của người Thái ở châu Quan Hóa xưa. Đây là điểm đến đầu tiên của người Thái vùng Tây Bắc Việt Nam dừng chân trong cuộc thiên di về phương Nam, khai phá đất đai, lập mường dựng bản dẫn đến sự có mặt của tộc người Thái và vùng văn hóa Thái trên đất Thanh. Với người Mường Thanh Hóa, vùng đất Lai Li Lai Láng là địa bàn của những mường gốc có lịch sử lâu đời, trong đó mường Ống bên bờ sông Mã là địa danh nổi tiếng.

Đến với Pù Luông bạn sẽ có dịp được tiếp cận với những thành tố của văn hóa Thái, văn hóa Mường với các loại hình văn hóa vật thể, phi vật thể đặc sắc; được thưởng thức các món ẩm thực đặc sản của người Mường, người Thái như rượu cần, rượu nếp cẩm, cơm lam và các món canh đắng, canh loỏng, canh rau sắng, cá nướng, thịt khô, xôi đồ với trứng kiến, hó moọc, chẻo trám, măng mu nướng, gỏi các loại cá, bánh trứng kiến, bánh ít, bánh lá, bánh sờn, chè củ mài nấu với mật ong rừng... Những món ăn, thức uống mang hương núi hoa rừng đã thành đặc sản, để lại dư vị khó quên.

Ngoài ra, bạn sẽ được thưởng thức nhiều loại hình văn hóa dân gian truyền thống đặc sắc, tiêu biểu của người Mường, người Thái như khua luống, khặp Thái, múa sạp, xem các trò diễn dân gian Thái như: Kin chiêng boóc mạy, lễ hội Căm Mương. Đến với các bản Mường trong dịp xuân, bạn có thể tham dự lễ hội Pôồn Pôông vào mùa hoa bông trăng nở, thưởng thức các làn điệu dân ca, tham dự các đêm “đánh xường” thâu đêm suốt sáng với nhiều cung bậc, nghe kể huyền thoại mường về “Cây chu đá, lá chu đồng, bông thau quả thiếc” trên đồi Lai Li Lai Láng; nghe truyện thơ Mường để cùng trai gái Mường đi tìm “bùa yêu” trên núi Làn Ai và đến với hội ném còn mùa xuân. Những đêm hội mùa xuân vùng cao trong âm thanh trầm bổng của cồng chiêng và các làn điệu dân ca Mường, dân ca Thái thường níu chân bạn.


Một địa điểm bạn không thể bỏ qua khi đến Pù Luông đó là Kho Mường.  Bản Kho Mường nằm trong một thung lũng khá rộng và được bao quanh bởi các dãy núi như giăng thành. Những mái nhà sàn của người Thái lợp cọ đơn sơ nằm rải rác hai bên lòng suối, đi dọc theo con suối là sẽ tới cánh đồng Kho Mường, nơi khi lúa chín vàng rộm, bà con sẽ lại tíu tít ra đồng đi gặt và gánh gồng. Cuối lối mòn căng ngang qua cánh đồng lúa là Hang Dơi, một địa điểm khám phá còn khá hoang sơ với nhiều du khách. Từ Hang Dơi có thể phóng tầm mắt bao quát cả cánh đồng Kho Mường bát ngát giữa màu xanh trập trùng của núi non. Nếu bạn có ý định thám hiểm Hang Dơi hãy chuẩn bị thật kỹ các đồ đạc chuyên dụng. Theo thông tin từ Ban Quản Lý rừng Pù Luông, Hang Dơi được hình thành bởi các khối đá vôi có tuổi đời phát triển từ 250 triệu năm về trước, trong hang có ít nhất 4 loài Dơi đã từng cư ngụ.

Với nhiều du khách nước ngoài, Kho Mường là điểm xuất phát lý tưởng cho những chuyến trekking xuyên Pù Luông. 


Pù Luông – tên gọi đã trở nên thân quen trong ký ức của dân “phượt”, với hình ảnh bình yên của bản làng, đồng ruộng và những cung đường “offroad” khét tiếng sau cơn mưa.

Đền Đồng cổ - điểm đến tâm linh và nguồn cội

Danh tiếng “Hồn thiêng sông núi” của núi và Đền Đồng Cổ đã hút hồn rất nhiều tài tử giai nhân. Thần núi Đồng Cổ ở đây có lẽ là thần duy nhất được phong là “Thiên hạ Minh chủ” của Việt Nam.


Hiếm có một di tích nào ở xứ Thanh có lịch sử lâu đời gắn liền với những huyền thoại và nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước như Đền Ðồng Cổ (Thôn Đan Nê - xã Yên Thọ - huyện Yên Định - tỉnh Thanh Hoá). Thuở xưa, với vị trí đắc địa nằm bên bờ hữu sông Mã, Đền Đồng Cổ đã trở thành điểm dừng chân của nhiều tao nhân mặc khách trên đường thiên lý. Ngày nay, danh tiếng của ngôi đền vẫn còn âm vang như mùa xuân vĩnh cửu của dân tộc thu hút du khách xa gần tìm về với cội nguồn.

Cách thành phố Thanh Hoá 40km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 45 ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), qua thị trấn Quán Lào, đến ngã ba Kiểu rẽ trái 2km là đến xã Yên Thọ (Yên Định), đến với Đền Đồng Cổ huyền thoại và hữu tình; cùng với di tích Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đền Hổ Bái, Đông Sơn,… đã tạo thành quần thể di tích lịch sử - văn hóa có bề dày truyền thống lâu đời của xứ Thanh.

Tương truyền, một vị vua khi đi đánh giặc qua đây có nghỉ lại một đêm trên bến Trường Châu bờ phải sông Mã (nay thuộc xã Yên Thọ). Trong giấc chiêm bao, vua được một vị thần xưng là thần núi Đồng Cổ báo mộng rằng dưới chân núi có trống đồng cổ, đào lên dùng tiếng trống làm linh khí đuổi giặc. Khi vua tỉnh giấc còn nghe tiếng chuông đồng vọng từ ngôi đền dưới chân ba ngọn núi. Nhà vua làm theo những điều mà sơn thần nơi đây báo mộng. Quân giặc nghe tiếng trống đồng âm vang đã sợ khiếp vía và rút chạy. Từ đó, nơi ba ngọn núi đá chụm đầu vào nhau, tạo thế đoàn kết như kiềng ba chân, đã trở nên linh thiêng.

Lịch sử ngôi đền ở Thượng Điện đã ghi: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), do thần núi Đồng Cổ (Trống Đồng) phù trợ Vua Hùng đi dẹp giặc phương Nam (Hồ Tôn - Chiêm Thành và Lâm Ấp) nên khi thắng trận quay về vua phong là “Đồng Cổ Đại vương” và cho lập miếu để thờ.Đền nằm trong thung lũng núi Tam Thai, một vùng địa linh thuộc thôn Đan Nê (xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa), trên bến Trường Châu cổ xưa, ngay bờ sông Mã. Đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê - Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn… Miếu thờ thần núi Đồng Cổ rất hiển linh, vị thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp Vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp Vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn; giúp Vua Lê - Chúa Trịnh đánh tan nghịch Mạc; các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”.

Năm 1020, Lý Thái Tông Phụng mệnh vua cha là Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành, đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu rằng:

- Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập công.

Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, vua cho quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, giành thắng lợi. Khi khải hoàn về qua Trường Châu, Thái tử bèn sai quân sĩ sửa sang miếu thần thành đền thần, rồi tạ lễ và rồi rước bài vị về kinh đô để dựng đền giúp cho quốc thái dân an.

Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, Thái tử Lý Phật Mã chưa kịp lên ngôi thì xảy ra loạn Tam vương. Các hoàng tử Vũ Đức, Đông Chính và Dực Thánh khởi loạn giành ngôi báu. Thái tử được Lê Phụng Hiểu giúp sức dẹp yên. Lý Phật Mã lên ngôi vua (Lý Thái Tông) nhận rằng trước thời điểm xảy ra nội loạn trong vương triều, thần núi Đồng Cổ đã báo mộng cho Thái tử biết nên đã kịp thời mà phòng bị.

Từ vụ dẹp xong tạo phản, vua càng tin vào sự linh thiêng của thần Đồng Cổ, xuống chiếu giao cho quan hữu ty dựng đền thờ tại Thăng Long vào năm mới lên ngôi sau chùa Thánh Thọ (1028), lấy ngày 25-3 dựng đàn thề. Sau đó vì tháng 3 có ngày Quốc kị nên chuyển sang ngày mồng 4-4 hàng năm. Nhà vua ban chiếu lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội". Trải qua các triều đại đền thờ thần Đồng Cổ Đan Nê vẫn được coi là đền chính.

Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta. Trong đền còn rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Trần, Lê, Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Yên Định (Thanh Hóa) và phường Bưởi (Hà Nội). Thời Trần, hội thề Đồng Cổ là một hội lớn, dân bốn phương về xem hội rất đông. Đền Đồng Cổ tại Hà Nội giờ đây nằm trên khu đất cao, trông ra sông Tô Lịch, gồm Tam quan, các tòa Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Bên trong vẫn còn lưu giữ 12 đạo sắc của các niên hiệu: Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Thiệu Trị, Tự Đức (từ 1740 - 1883). Vì đền thờ linh thiêng nên vào nửa đầu thế kỷ thứ I sau Công nguyên, các nghĩa sĩ Thanh Hóa đã rước linh vị thần Đồng Cổ lập miếu thờ ở Nguyên Xá, huyện Mê Linh, nơi tụ nghĩa của Hai Bà Trưng.

Tại đền thờ gốc ở Đan Nê có ba ngọn núi đá vững chãi (gọi là Tam Thái Sơn) bao bọc một khu đất rộng có hồ nước ở giữa, tạo phong cảnh sơn thủy hữu tình. Trước cửa đền, bên kia hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân. Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn, con vua Quang Trung, viết năm 1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây, và kể lại chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy và cúng tiến vào đền. Tấm kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng Ðan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền. Còn tấm bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn Thanh Hóa. Một đêm, ông nghỉ tại làng Ðan Nê, có vào cầu khấn trong miếu thờ Ðồng Cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy bên bờ Nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4 thước. Có luận giải rằng đây là chiếc trống đồng năm xưa đã giúp vua Hùng đã làm linh khí đánh giặc loạn xâm vùng này. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ.

Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (dân làng gọi một cách dân dã là dãy núi Ðổng). Ngày xưa ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp.


Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Theo những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu vào tầm mắt phong cảnh thật tuyệt vời của dòng sông Mã. Giữa đôi bờ bạt ngàn những ruộng ngô xanh mướt đang phất cờ, dòng sông mùa khô mang mầu ngọc bích hiền hòa trôi. Xa xa, phía bên kia sông là dáng hình thành Nhà Hồ (thuộc huyện Vĩnh Lộc), ẩn hiện trong sương mù mùa đông mờ ảo. Dưới chân núi, ngôi đền Đồng Cổ (được xây lại vào năm 1996, chỉ gồm một gian hai chái), lọt trong xanh tươi cây lá. Trước đền, hồ Bán Nguyệt như một tấm gương soi mây trời, lồng bóng núi.

Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi bên phải của đền. Trước đây, người ta còn tìm được trong hang nhiều vỏ bom hình dáng như chiếc vỏ chai và những vũ khí tự tạo trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Đồng Cổ. Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.

Ðến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền.

Năm 2010, với ý nghĩa lịch sử và giá trị tâm linh sâu sắc Di tích đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê, xã Yên Thọ (Yên Định, Thanh Hóa) được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.

Đền Đồng Cổ thực sự là Di tích lịch sử - văn hóa có giá trị đặc biệt với người dân Việt Nam, nó thể hiện rõ tâm linh hướng thiện và tâm thức về nguồn, vọng ngưỡng lòng trung thành, yêu nước của người Việt Nam, phát huy những giá trị tiếp nối truyền thống thượng võ của dân tộc ta. Đây cũng là điểm tham quan, thưởng ngoạn, viếng cảnh và thắp hương cầu nguyện của du khách trong và ngoài nước.