Cụ ông 84 tuổi đạp xe 220km để bảo hành điện thoại


Vào sáng ngày 2/7, cửa hàng điện thoại Tùng Phương tại phố Trường Thi, Tp. Thanh Hóa đón tiếp một vị khách đặc biệt. Đó là ông cụ 84 tuổi  (ở Đội 3,  Nông Trang, xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An) đến bảo hành chiếc điện thoại của mình giá trị khoảng 200.000 đồng. Qua tìm hiểu , được biết ông cụ mua chiếc điện thoại này tại Hải Phòng, sau hai ngày sử dụng thì chiếc điện thoại bỗng nhiên bị sập nguồn.

Vì tiếc chiếc điện thoại phải tích góp mới mua được, lại sợ mất số liên lạc của bạn bè phương xa lưu trong điện thoại, cụ ông đã vất vả đạp xen 220km từ Nghệ An ra Thanh Hóa với hy vọng “cứu” điện thoại thành công. Cụ chia sẻ, cụ đã vào rất nhiều cửa hàng ở Nghệ An nhưng họ đều từ chối không nhận bảo hành.

Cụ xem trên thẻ bảo hành chỉ có ở Thanh Hóa - Hà Nội - Hải Phòng nên cụ chọn Thanh Hóa cho gần. Hầu hết các cửa hàng điện thoại ở Nghệ An từ chối bảo hành cho cụ là do họ không kinh doanh hãng điện thoại này.

Đại diện cửa hàng Tùng Phương cho biết: “Hành trang vượt đường xa của cụ ông khá đơn giản. Ông chỉ có một chiếc xe đạp buộc lốp, cái đèn pin và cái túi bóng đựng cơm, vài miếng bánh đa…. Cụ nói đi từ 8h sáng ngày 30/6 đến 6h sáng ngày 2/7 mới đến nơi. Quá thương cảnh cụ, chúng tôi đã tặng cụ 1 chiếc máy điện thoại Nokia N105 mới kèm sim và biếu cụ chút tiền đi đường”.


Thương cảm với tình cảnh của cụ, các nhân viên trong cửa hàng cũng quyên góp số tiền nhỏ để thay thế toàn bộ lốp xe, vành xe cho cụ và bắt xe bắt xe khách cho cụ về quê an toàn.

Tôi không có cảm tình với những người Thanh Hóa đã từng tiếp xúc...

Khi trên mạng đầy rẫy những thông tin đa chiều nói về dân Thanh Hóa. Tôi ko hề lấy đó làm vui vẻ, nhưng rồi tôi cũng đã tiếp xúc và tôi hiểu vì sao? - một bạn trẻ có nick name hung...@gmail.com chia sẻ

Tôi không ủng hộ việc phân biệt vùng miền bởi nó gây chia rẽ, mất đoàn kết. Nhưng nếu nói là ác cảm, thì cũng có nguyên nhân của nó, như các cụ đã dạy “không có lửa thì làm sao có khói”. Đâu phải tự nhiên vô cớ mà người ta ghét dân tỉnh này, tỉnh nọ làm chi cho mệt. 

Thú thực, tôi cũng thường e dè, không có nhiều thiện cảm, thậm chí có những ấn tượng xấu với một số người Thanh Hóa. Các bạn đừng vội nói tôi là a dua, ghét theo phong trào, thấy người ta ghét dân Thanh Hóa thì cũng ghét theo. Bởi mới đầu tôi cũng không ác cảm gì với họ, nhưng sau đó chính bản thân tôi đã từng tiếp xúc, va chạm và chứng kiến những câu chuyện không hay về nhiều người Thanh Hóa thì mới dám tự rút ra kết luận cho riêng mình như thế.

 
Tôi không có cảm tình với những người Thanh Hóa đã từng tiếp xúc...
Một thông báo tìm người ở trọ cùng, trong đó có một điều kiện là "không phải quê Thanh Hóa".

Trong ngõ nhà tôi có một gia đình gốc Thanh Hóa. Khoảng một năm nay, khu dân cư chỗ tôi thực hiện thắp đèn buổi tối khắp các ngõ để cho sáng sủa, thuận tiện cho người dân đi lại và đảm bảo an ninh. Gia đình người Thanh Hóa kia ở ngay gần nơi mắc một bóng đèn nên dĩ nhiên nhiệm vụ bật đèn mỗi tối được giao cho họ. Ngoài chi phí lắp đặt ban đầu được chính quyền hỗ trợ, các hộ trong khu dân cư sẽ đóng tiền định kỳ để trả tiền điện cho hộ phụ trách bật đèn.

Bóng đèn tiết kiệm điện, bật từ tối hôm trước đến sáng sớm hôm sau nên chả tốn bao nhiêu tiền điện. Tiền điện đã nhận đủ nhưng gia đình này luôn luôn bật đèn muộn nhất và tắt đi sớm nhất. Khi các bóng đèn dọc con ngõ đã bật sáng trưng thì bóng đèn nhà này phụ trách vẫn chưa chịu bật khiến mọi người qua lại phải kêu ầm lên. Buổi sáng khi trời chưa nhìn rõ mặt người thì nhà này đã dậy sớm tắt điện đi làm mấy ông bà đi tập thể dục phản đối suốt ngày. Ai ý kiến cứ ý kiến, nhà này cứ thực hiện phương châm tranh thủ bật muộn, tắt sớm được chút nào hay chút đó. Thậm chí có nhiều đêm, khi không còn ai đi lại ngoài đường, nhà này lại lén tắt bóng đèn đi khiến khoảng ngõ chỗ đó tối thui.

Không chỉ riêng việc bật đèn, gia đình người Thanh Hóa này còn nổi tiếng cả khu là luôn trây ì, tìm cách trốn đóng tiền vệ sinh, tiền thu rác dù chẳng nhiều nhặn gì, chỉ vài chục ngàn đồng mỗi năm; và chẳng bao giờ biết giúp đỡ mọi người xung quanh. Tổ trưởng dân phố, hàng xóm góp ý đủ kiểu họ vẫn cứ trơ ra không thay đổi. Mọi người chỉ còn biết ngán ngẩm nói với nhau.

Tưởng mấy ông bà già cổ lỗ sĩ nên vẫn giữ nguyên bản chất nhưng một số người Thanh Hóa trẻ tuổi tôi tiếp xúc cũng không mất đi được những tiếng xấu lưu truyền về người dân vùng mình. Chuyện là ở công ty tôi có hai cậu thanh niên người Thanh Hóa. Hai cậu này khi có việc gì cần nhờ vả thì ngọt sớt, nhưng chẳng ai nhờ lại được họ việc gì cả, lại còn chuyên đi nịnh sếp và nói xấu đồng nghiệp như đàn bà nữa.

Mỗi lần anh em trong công ty đi liên hoan, hai cậu này luôn tìm cách từ chối tham gia hoặc luôn có lý do chuồn trước khi cuộc vui sắp tàn để khỏi phải đóng tiền. Một lần, hai lần rồi nhiều lần như thế, mọi người cũng chán không muốn rủ nữa. Nhưng mà đấy là những lần đi ăn đóng tiền, còn những dịp liên hoan mà sếp mời hay có khoản thưởng gì đó, hai cậu này chẳng bao giờ vắng mặt và luôn ăn uống nhiệt tình từ đầu đến cuối, chẳng thấy về sớm nữa. Đúng là…

Một điều nữa khiến mấy cậu Thanh Hóa này bị mọi người trong công ty tôi ghét, chẳng ai muốn chơi cùng là cái tính tinh tướng, lúc nào cũng nghĩ là mình tài giỏi hơn người, vỗ ngực nhận mình là “hào kiệt xứ Thanh” để không coi ai ra gì. Vì vậy chẳng ai muốn chơi với hai cậu này nên họ đành… tự chơi với nhau.

Tưởng là đồng hương, tương đồng tính cách lại chơi thân với nhau nhưng hai cậu này cũng không ít lần đấu đá, “đâm lưng” nhau. Bình thường thì chả sao, nhưng mỗi khi có dự án hay cần thể hiện để ghi điểm với sếp là hai cậu này tìm đủ mọi cách triệt hạ nhau. Một lần, một cậu giả vờ vô tình làm đổ cốc cà phê lên bản thiết kế của cậu kia, thế là suýt đánh nhau to. Rồi cứ hễ cậu này được sếp khen là cậu kia đi khắp nơi nói xấu. Vốn biết tính cách mấy cậu này nên mọi người chẳng rỗi hơi quan tâm, bởi ai cũng biết “kiểu gì nó chẳng từng nói xấu mình”.

Nhân chuyện này, tôi nhớ có một lần đọc được ý kiến của một ông giáo sư người Thanh Hóa trả lời trên báo chí, đại ý là: Năm anh Thanh Hóa đi với nhau, bình thường thì vui vẻ không sao, nhưng hễ có một anh tỏ ra nổi trội, tài giỏi hơn là chắc chắn bốn anh kia sẽ quây vào dìm xuống. Đó là một nét tính cách cực xấu nhưng đặc trưng của người xứ Thanh.

Chỉ có hai cậu Thanh Hóa kia thôi mà đã bao lần làm công ty tôi ầm ĩ hết cả lên. Vậy nên chắc hẳn nhiều doanh nghiệp ở miền Nam tẩy chay từ đầu, không nhận lao động Thanh Hóa là có lý do chính đáng của họ. Mấy ông suốt ngày lôi kéo đánh nhau, rượu chè cờ bạc, làm thì lười lại hay quậy phá mà nhận vào thì có mà phá tan doanh nghiệp người ta.

Mà tôi thấy cũng lạ. Rõ ràng nhiều nét tính cách xấu của người Thanh Hóa đã rõ rành rành ra đấy, ngay cả nhiều người dân ở đây cũng phải thừa nhận, rồi doanh nghiệp người ta phải hãi hùng cấm cửa, thế mà cứ có ai động chạm đến mình là chưa biết đúng sai họ đã nhảy dựng lên phản ứng. Có người còn thách thức là “đã mang tiếng xấu thì hành động xấu luôn cho bõ” khiến hình ảnh dân Thanh Hóa càng trở nên xấu xí trong mắt người khác. Như bạn tên Tuấn người Thanh Hóa, tôi thấy bạn này vốn định thanh minh, kể lể về việc mình bị ghét "một cách vô lí" chỉ vì là người Thanh Hóa, nhưng đọc những gì bạn này chia sẻ và comment của mọi người ở dưới thì thấy không mấy người đồng cảm, trái lại, đa số đều lên án và cho rằng bạn Tuấn này đã tự thể hiện một hình ảnh chẳng đẹp chút nào.

Tôi nghĩ là không phải vô cớ mà người ta không ưa, người ta ghét, thậm chí là tẩy chay, nhiều bạn Thanh Hóa nên tự nhìn lại mình để thay đổi những tính xấu thì mới mong người ta bớt ác cảm.

Cảnh giác phòng ngừa chống trộm cắp tài sản tại Thanh Hóa

Thời gian gần đây, trên địa bàn cả nước nói chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng, tình hình tội phạm trộm cắp tài sản có nhiều diễn biến phức tạp và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Trong đó chủ yếu là trộm cắp xe máy, đột nhập, trộm cắp tài sản trong công sở, trường học; đập phá két sắt, cậy phá tủ nhà dân để trộm cắp tài sản. Từ đầu năm 2013 đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra khoảng 1.200 vụ trộm cắp tài sản. Một số địa bàn trọng điểm thường xảy ra tội phạm trộm cắp tài sản là TP Thanh Hóa (557 vụ, chiếm 45,2% tổng số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn toàn tỉnh); Tĩnh Gia (76 vụ); thị xã Bỉm Sơn (64 vụ); Quảng Xương (58 vụ)... 
 
2 đối tượng Cường và Quân trong vụ trộm cắp xe máy liên tỉnh
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tội phạm trộm cắp đó là sự chủ quan, lơ là, mất cảnh giác của người dân, người quản lý, bảo vệ tài sản trong các cơ quan, doanh nghiệp và các hộ gia đình như: không khóa cổ, khóa càng xe máy, để phương tiện ở những nơi không có người trông giữ; cửa nhà, cửa tum khóa bằng các loại khóa không an toàn, thậm chí quên không khóa cửa nhà, cửa phòng làm việc; hoặc khóa cửa phòng, cửa nhà nhưng không khóa cửa sổ; các cơ quan, doanh nghiệp, trường học không có lực lượng bảo vệ chuyên trách, bảo vệ lỏng lẻo, không lắp đặt hệ thống giám sát an ninh, hệ thống chiếu sáng, tường rào không bảo đảm, không thường xuyên tổ chức tuần tra, canh gác bảo vệ tài sản, nhất là vào ban đêm, ngoài giờ hành chính hay các dịp nghỉ lễ...

Khi đột nhập, các đối tượng thường dùng các thủ đoạn như: Mở hoặc cạy phá khóa; dùng các vật như kìm cộng lực cắt khóa, dùng dao, búa, khoan, tháo bản lề, bẻ khuy khóa; trèo tường, vượt rào, chui qua cửa sổ, ô thông gió, trèo lên ban công đột nhập từ tum xuống, dùng đèn khò tác động vào mặt kính làm cho mặt kính nứt vỡ để đột nhập; lợi dụng sơ hở của chủ nhà hoặc người quản lý tài sản lẻn vào nhà hoặc cửa hàng, cửa hiệu... núp sẵn ở một nơi kín đáo chờ thời cơ hoạt động. Cá biệt một số đối tượng còn dùng thủ đoạn dàn dựng tình huống để trộm cắp tài sản, như: tạo va chạm gây tai nạn giao thông trên đường sau đó đồng bọn giả vờ đến giúp đỡ người bị nạn, lợi dụng nạn nhân sơ hở để trộm cắp tài sản, nếu bị phát hiện chúng sẽ cướp giật tài sản rồi bỏ chạy.

Đối với tội phạm trộm cắp xe máy, thủ đoạn chủ yếu là lợi dụng sơ hở của người quản lý xe máy không có người trông coi. Khóa cổ xe máy nhưng không đóng nắp an toàn cũng là hành động dẫn đến việc "mời trộm". Chúng dùng vam hoặc chìa khóa vạn năng phá khóa cổ và khóa điện xe máy để lấy phương tiện; giả làm người giữ xe, để dắt trộm xe máy của khách ở các nơi công cộng như chợ, bến xe, nhà ga, khách sạn, nhà hàng, quán cà phê, dịch vụ khác cần phải gửi xe hoặc làm giả thẻ giữ xe, đánh tráo, ghi thêm, xóa bớt vào vé xe, trên thân xe hoặc dùng biển số xe máy giả để trộm cắp xe máy ở bãi giữ xe. 

Khi phát hiện các thông tin, tài liệu về các đối tượng trộm cắp, tiêu thụ tài sản trộm cắp các bạn nhanh chóng thì kịp thời thông báo cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc gọi điện thoại về đường dây nóng: 037.3725725 để lực lượng công an kịp thời điều tra, bắt giữ, xử lý vi phạm nhé

Phương án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Phủ Trịnh Vĩnh Lộc

Sáng ngày 27/06, tại UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị về việc phục hồi tu bổ lại di tích lịch sử Phut Trịnh. Hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ban ngành, địa phương: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Kế hoạch và Đầu tư; Tài Chính; Xây dựng; Tài nguyên và Môi trường; Văn phòng UBND tỉnh; UBND huyện Vĩnh Lộc cùng đại diện Hội đồng dòng họ Trịnh Việt Nam; đại diện Hội đồng dòng họ Trịnh Thanh Hóa. Đồng chí Vương Văn Việt - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Phủ Trịnh (thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá) thời xưa được coi là hành dinh của nhà Trịnh mỗi lần về quê bái yết tôn lăng, đồng thời là công trình kiến trúc tiêu biểu của thời kỳ Lê - Trịnh trên vùng đất xứ Thanh. Khu vực Phủ Trịnh rộng khoảng 10 ha, có nhiều công trình, là nơi các Chúa ở, thờ phụng và làm việc. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Phủ Trịnh giờ đây chỉ còn lại một khu đất nhỏ có diện tích khoảng 2.614 m2 bao quanh là các loại cây cảnh. Công trình duy nhất còn lại hiện nay là tòa nhà thờ cúng gồm 7 gian, hình chữ Nhất với lối kiến trúc đơn giản và đang xuống cấp nghiêm trọng. Chính vì vậy, việc bảo tồn, tôn tạo và phục hồi lại di tích Phủ Trịnh là việc làm cần thiết, góp phần bảo tồn vững chắc và tôn vinh giá trị nổi bật của di tích lịch sử cấp quốc gia này.
Theo phương án kiến trúc do Công ty Cổ phần Tu bổ di tích và kiến trúc cảnh quan (đơn vị tư vấn) trình bày thì dự án sẽ có 7 hạng mục công trình trên diện tích khoảng 3,09 ha, cụ thể gồm: Bãi đỗ xe - dịch vụ; Hồ nước; Miếu Tống thiên vương; Phủ từ; Nội cung; Nội phủ; Vườn danh nhân họ Trịnh. 

Phương án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Phủ Trịnh Vĩnh Lộc

Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vương Văn Việt nhấn mạnh: Việc phục hồi khu di tích lịch sử Phủ Trịnh là việc làm cần thiết, việc phục hồi phải gắn liền với việc nêu bật và khẳng định công lao, vị trí, vai trò của nhà Trịnh trong dòng chảy lịch sử dân tộc, tương xứng với tầm vóc của một di tích lịch sử cấp Quốc gia.  Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: Việc tôn tạo hay phục dựng di tích cần phải dựa trên luật Di sản và cơ sở khoa học, chứng cứ dữ liệu lịch sử. Nếu căn cứ vào mình tư liệu dòng họ Trịnh thì chưa đủ sức thuyết phục các cơ quan chuyên môn cũng như Cục Di sản thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, là nơi cấp phép phê duyệt dự án được trùng tu, phục dựng, tôn tạo. Từ đó, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Công ty Cổ phần Tu bổ di tích và kiến trúc cảnh quan tiếp tục nghiên cứu, khai thác lược đồ, bổ sung dữ liệu lịch sử để dự án đủ sức thuyết phục các nhà quản lý di tích. Khi tôn tạo lại di tích cần chứng minh được yếu tố công năng sử dụng trong lịch sử của từng hạng mục công trình. Bên cạnh đó, việc bổ sung thêm hạng mục công trình vườn danh nhân họ Trịnh trong di tích là không cần thiết, phía công ty cần lược bỏ hạng mục này để phù hợp đúng với tính lịch sử của khu di tích lịch Phủ Trịnh

Điểm du lịch hấp dẫn tín ngưỡng: Sòng Sơn – Chín Giếng

Chính ở đền Sòng trong một lần trùng tu vào tháng 4 - 1939 khi thợ đào đất để xây dựng bức bình phong trước cửa chính, họ đã tìm thấy một cái tráp bằng đồng hình chữ nhật. Mở cái tráp ấy ra, họ rất ngạc nhiên khi thấy trong đó, một cuốn sách có nhiều tờ bằng đồng ghi niên hiệu Vĩnh Tộ (1619 - 1628) đời Lê Thần Tông và chép lại lịch sử gia đình nữ thần Vân Hương.


Điểm du lịch hấp dẫn tín ngưỡng: Sòng Sơn – Chín Giếng
Lễ hội Đền Sòng - văn hóa tín ngưỡng Việt



Theo H. Breton thì : “Ngôi đền Sòng còn gọi là đền Sùng Sơn, đền này dựng vào thời Cảnh Hưng triều Lê Hiến Tôn (1740-1786) ngay tại nơi Chúa Liễu Hạnh tái hiện xuống trần”. (Revue Indochinos – 3/1922).

Cạnh đền có một chếc cầu bằng đá do bà Hoàng thái hậu đời Lê xây dựng từ năm thứ 33 đời vua Lê Cảnh Hưng (1772). Cầu bắc qua một con suối trong veo chảy qua đền, làm cho cảnh trí càng thêm ngoạn mục.

Theo truyền thuyết kể rằng: “Một hôm có một lão già người làng Cổ Đam, sau khi được Nữ chúa Vân Hương nhập hồn và tuân theo lời khuyên của bà, ông lão lấy một chiếc gậy tre đem cắm xuống đất và truyền làm một ngôi đền thờ ở đó. Chiếc gậy được cắm xuống đất đột nhiên bén rễ và đâm chồi. Trước hiện tượng “màu nhiệm” này, dân làng bèn dựng ngay một ngôi đền theo mộng báo của nữ chúa. Lúc đầu ngôi đền bé nhỏ, nhưng ngày càng được mở rộng thêm. Sau nhiều lần trùng tu, đền Sòng càng khang trang, đẹp đẽ như ngày nay.

Liễu Hạnh công chúa là tiên nữ giáng trần lần thứ nhất tại làng An Thái, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản (nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) vào năm Thiên Hựu - đời vua Lê Anh Tông (1557). Rồi nàng lại về trời sau 21 năm ở trần gian. Nàng giáng trần lần thứ 2 vào ngày kỵ thứ 2 của nàng - cũng ở làng An Thái, sau đó lại biến mất. Nàng giáng trần lần thứ 3 cùng với hai thị nữ là Quế Nương và Thị Nương tại Phố Cát (Thạch Thành - Thanh Hóa) vào thời vua Lê Huyền Tông (1663 - 1671) và hiển thánh tại Sùng Sơn.

Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân". Bà còn được cho là người đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ thờ đạo Mẫu.

Theo “Truyền kỳ Tân Phả” của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) thì nàng có tên tuổi, quê quán hẳn hoi. Tuy là tiên chúa song về bản chất, hình tượng Liễu Hạnh là người phụ nữ bình thường như mọi người phụ nữ khác. Đó là người con gái nết na, đoan trang, phúc hậu. Nàng là vợ thảo hiền, chung thủy, sống trong hạnh phúc lứa đôi, vẹn nghĩa, trọn tình. Là người mẹ thì yêu thương con hết mực. Khi phải về trời nàng vẫn lưu luyến cuộc đời trần tục thế gian. Trở thành tiên chúa nàng vượt lên mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Liễu Hạnh thực sự có một cá tính mạnh mẽ. Hình ảnh tiên chúa phải chăng là thể hiện lý tưởng ước mơ giải phóng phụ nữ Việt Nam. Nàng đi mây về gió. Nàng giao du rộng rãi, mở quán bán hàng, xướng họa với các tao nhân mặc khách, làm cho họ kinh ngạc và khâm phục, như cuộc gặp gỡ ly kỳ giữa Quan chánh sứ Phùng Khắc Khoan ở Lạng sơn, với Trạng Bùng và cử nhân họ Lý, họ Ngô ở Hồ Tây Thăng long.

Từ nhiều đời nay nhân dân tìm đến với Liễu Hạnh là tìm đến với đạo Mẫu. Liễu Hạnh công chúa là biểu tượng của ước mơ giải phóng phụ nữ.

Câu đối ở đền Ngọc Hồ (Hà Nội) - một trong những nơi thờ Thánh Mẫu đã phần nào đã nói lên : Thánh Mẫu Liễu Hạnh luôn chiếm vị trí quan trọng trong tâm thức của người Việt nam nói chung và người Thanh hoá nói riêng.

                    “Chẳng thiêng cũng bụt chùa nhà, gái Thanh Hóa nữ thần có một
                                
Đẹp nhất là tiên hạ giới, cõi nam thiên bất tử hòa tư”.

Cuộc giáng trần lần thứ ba của Tiên chúa là vùng Phố Cát và lúc hiển Thánh là ở Sùng Sơn. Cho nên xứ Thanh cũng có thể được xem là đất “quý hương” của Tiên chúa !

Huyền thoại về Liễu Hạnh công chúa vẫn còn có sức lay động lòng người, vẫn gieo chất nồng say vào cuộc sống đương đại hôm nay

Tìm hiểu sự tích Chúa Liễu Hạnh


Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam. Có gia đình ông Phạm Huyền Viên (xã La Ngạn) kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng (Nhuế Duệ - Vỉ Nhuế) (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Sự tích giáng sinh lần thứ nhất:
Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung).

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, Bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha và mẹ.

Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa chùa Sơn Trường - Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn - Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá - Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), Bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hoá thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi.

Ngay sau khi Bà mất, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, Đồng thời quê mẹ của Người là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu gọi là Phủ Quảng Cung.

Sự tích giáng sinh lần thứ 2:
Vì thương nhớ cha mẹ và quê hương ở cõi trần mà đến thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557), Phạm Tiên Nga lại giáng sinh lần thứ 2 tại thôn Vân Cát xã An Thái, huyện Thiên Bản (nay là Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định, cách quê cũ Vị Nhuế chừng 7 km).

Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577). Năm ấy, Bà mới 20 tuổi. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương - Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Sự tích giáng sinh lần thứ 3:
Vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến thời Lê Khánh Đức thứ 2 (1650), Phạm Tiên Nga lại giáng sinh tại làng Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, vào ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai tên là Cổn.

Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trị thứ 6 (1668). Năm ấy Bà vừa 18 tuổi. Đền thờ Bà là Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá.

Tìm hiểu sự tích Chúa Liễu Hạnh
Điện thờ Liễu Hạnh Công Chúa tại Phủ Tây Hồ HN

Câu chuyện lạ về 3 con rồng thiêng ở Hà Trung Thanh Hóa

[Thanh Hóa trong tôi] - Rồng đất là con gì? Hình thù ra làm sao? Và tại sao người dân nơi đây lại thờ cúng chấp tay vái lạy như thế kia? Thực hu chuyện "Thấy tiên thì dễ thấy rồng phúc lộc trăm năm" ra sao? Mời các bạn tìm hiểu qua câu chuyện lạ xứ thanh: "Cả họ vái lạy 3 con rồng đất" dưới đây...

Câu chuyện lạ về 3 con rồng thiêng ở Hà Trung Thanh Hóa

Anh Nguyễn Văn Lợi - người trông coi khu lăng tẩm nhà Nguyễn và cũng chính là người bắt được ba con rồng kể lại rằng: “Khi tôi đang dùng máy múc khai phá diện tích đất hoang bên dìa bờ sông Vực để trồng trọt thì phát hiện từ trong bụi rậm có tiếng động. Tôi tò mò tiến lại gần, thấy có con vật lạ rất đẹp nên tôi lao lại bắt nhưng nó nhanh chóng nhảy xuống sông. Tôi lội xuống theo và vất vả bắt được con vật này”.

Sau đó bốn ngày anh Lợi ra khai phá khu đất đang làm dở đã bắt được con vật tương tự nữa cách chỗ cũ khoảng 50m. Ít ngày sau cũng chính anh Lợi và ông Nguyễn Hữu Thoại - Chủ tịch Hội đồng trị sự dòng tộc Nguyễn Công Duẩn tiếp tục bắt được con vật lạ thứ ba tương tự hai con vật anh Lợi bắt được trước đó.

Tuy nhiên con vật thứ ba, ông Thoại và anh Lợi bắt được trên đỉnh núi gần khu lăng mộ Trường Nguyên. Ông Thoại và nhiều bậc cao niên ở xã Hà Long nhận định đây chính là ba con rồng đất. 

Vậy thực hư loài vật được cho là thiêng liêng này ra sao? Tại sao người dân nơi đây lại có vẻ như rất tôn thờ và sợ loại vật này đến vậy? Đây là câu hỏi đặt ra cho tất cả chúng ta!

Theo quan sát của chúng tôi, trong 3 con rồng có một con dài khoảng 80cm, hai con còn lại dài 70cm, mỗi con nặng khoảng 1kg. Trên lưng rồng có vây chạy dài đến 2/3 thân, đuôi rồng màu đen vàng giống rắn cạp nong. Bàn chân của ba con rồng đều có 5 ngón, các ngón đều có móng kiểu móng chân gà, hai bên mang có ria. Điều đặc biệt là ba con rồng đều thay đổi màu sắc theo thời tiết, thời gian và vị trí đặt rồng nằm.

Các bậc cao niên ở Hà Long đã tham khảo ý kiến của nhiều người khác, và làm lễ phóng sinh 3 con rồng này về núi Thiên Tôn sau khi đã vái lạy nó

Qua tìm hiểu sưu tầm, được biết rồng đất có tên trong sách đỏ Việt Nam. Ngoài tên khoa học Physignathus cocineinus, rồng đất còn có nhiều tên gọi dân gian khác như rồng tạng, tò te (Việt), đan gian, con rình rình (Mường), bùng nhỉ loòng (Dao), tu lủng lẳng (Tày), tu xả tảng (Thái)… Rồng đất thường ở trong hang hốc, trong các bụi cây ven bờ suối hoặc bên các vực nước trong rừng. Chúng di chuyển nhanh nhẹn trên mặt đất hoặc leo lên cây. Trong mùa lạnh, rồng đất chuyển lên trú trong các bọng cây để giữ nhiệt
Sưu tầm