Rượu Chi nê Hậu Lộc – Đậm đà hương vị xứ Thanh

Rượu Chi Nê là đặc sản rượu nổi tiếng mang đậm bản chất văn hóa xứ Thanh – một mảnh đất giàu truyền thống.


Rượu Chi Nê  được lấy từ cái tên của làng Chi Nê, Xã Cầu Lộc, Huyện Hậu Lộc,tỉnh Thanh Hoá. Ngôi làng này có truyền thống nấu rượu lâu đời, từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc đây là nơi chuyên cung cấp rượu cho các quan lại trong triều và các sỹ quan cao cấp của quân đội Pháp.

Theo nhiều gia đình ở xã Cầu Lộc cho biết, rượu Cầu lộc có được hương vị đặc biệt là do được sản xuất từ nguyên liệu gạo quê do chính người dân nơi đây trồng kết hợp với nguồn nước và men dùng để ủ rượu, cộng thêm những bí quyết gia truyền của ông cha ta để lại. Nguồn nước để nấu rượu được lấy từ nguồn nước ngầm ở các làng Thiều Xá,Đông Thôn và Cầu Thôn trong xã. Đây là nguồn nước tinh khiết không có độc tố kết hợp với loại men gia truyền làm từ 36 vị thuốc do người dân nơi đây tự chế ra và quá trình chưng cất công phu và tỉ mỉ với những công đoạn như nấu rượu, lên men… đã làm cho rượu có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay riêng. Vì vậy rượu Cầu Lộc chỉ ngon khi nó do chính tay người Cầu lộc nấu trên mảnh đất quê hương. Đây chính là món quà đặc biệt mà thiên nhiên đã ưu ái khi ban tặng cho mảnh đất xứ Thanh. Vì thế suốt bao đời nay người dân cầu lộc vẫn luôn duy trì, bảo tồn và phất huy nghề đọc đáo của ông cha ta để lại với niềm tự hào riêng.

Vừa mở nút chai rượu Chi Nê ra cũng đã cảm nhận được sự hấp dẫn, lôi cuốn đặc biệt của hương nếp mới quyện lẫn vào với hương thơm dịu mát của 36 vị thuốc bắc. Khi uống ta không hề cảm thấy nóng rát mà ngược lại rất êm dịu và thơm. Cái vị cay cay, tê tê nơi đầu lưỡi dần lan tỏa làm con người ta có cảm giác lâng lâng, bay bổng, tuy say nhưng không gây cảm giác đau đầu, khó chịu.

Với hương vị đặc trưng mà không có bất kỳ loại rượu nấu theo phương thức cổ truyền nào có thể sánh kịp. Nếu sử dụng điều độ, mỗi ngày uống từ 50-100ml rượu Chi Nê giúp bồi  bổ cơ thể làm tăng kích thích thức ăn, uống tiêu hoá, tạo cơ thể có sức khoẻ dai, trường thọ, có sức đề kháng chống bệnh tật. Với tính năng: Êm dịu có hương vị riêng biệt, là rượu trưng cất thủ công truy ền thống hỗ trợ cơ thể sau những giờ làm việc mệt nhọc.

Rượu Chi Nê là 1 trong 5 sản vật quý của người dân xứ Thanh làm say đắm lòng  người tứ xứ khi dừng chân lại mảnh đất này.


Biển Quảng Lợi, Quảng Xương - Viên ngọc mới của Xứ Thanh

Biển Quảng Lợi mang nét đẹp hoang sơ với bờ cát trắng, nước biển trong vắt và rặng phi lao xanh mướt sẽ trở thành điểm du lịch hấp dẫn.

Mảnh đất Xứ Thanh được thiên nhiên ưu ái ban tặng hơn 100 km bờ biển, với những bãi cát dài, phẳng mịn, rất thuận lợi cho phát triển du lịch. Nếu như hơn 100 năm nay, du khách biết đến Thanh Hóa với bãi tắm Sầm Sơn thì vài năm trở lại đây, khách du lịch thường nhắc nhiều hơn về một bãi biển mới mang đầy nét quyến rũ, đó là Quảng Lợi nằm cách thành phố Thanh Hóa 20 km về phía nam. Biển Quảng Lợi cuốn hút du khách ở nét nguyên sơ và thơ mộng, với bãi biển ngập tràn cát trắng, thoai thoải bên rặng phi lao quanh năm xanh mướt, con người hồn hậu, hiếu khách.


Đến với Quảng Lợi du khách không chỉ được ngâm mình dưới dòng nước trong mát, được đùa giỡn trên những con sóng tinh nghịch, mà còn thưởng thức những loại đặc sản biển và hòa mình khám phá cuộc sống của bà con ngư dân thuần phác, hiếu khách nơi đây. Ngay từ lúc mặt trời còn ngái ngủ dưới những con sóng thì bà con ngư dân đã xuất hiện trên bờ biển cùng với những tấm lưới trĩu nặng trên vai. Các hộ gia đình cùng với thuyền, lưới đang chuẩn bị một ngày làm việc mới. Điều thú vị nhất đó là du khách có thể cùng với ngư dân ở đây kéo Rùng (cách gọi của những ngư dân nơi đây) để đón những mẻ cá đầu tiên của ngày.
Những mẻ tôm cá được lần lượt chia đều cho các hộ gia đình để kịp giờ ra chợ. Xe máy của các nhà buôn đổ về đây để thu mua hải sản, du khách tập trung về đây lựa chọn đồ ngon để tự tay chế biến cho mình những món ăn theo sở thích…, tất cả tạo nên một không khí rất riêng của biển nơi đây.

Nếu được ngồi trên những chiếc ghế dưới rặng phi lao nhìn ra biển xa, nghe sóng ru êm đềm, tạm quên đi những lo toan thường nhật, rồi nhâm nhi món mực khô chấm tương ớt hoặc cá thu tươi nướng kẹp bánh đa với vài cọng rau thơm, thì thật thú vị làm sao.

Khi mặt trời lên cao, nhìn ra xa đảo Hòn Mê nổi lên mặt biển khơi, xanh như một viên ngọc bích. Làn cát trắng mịn màng trải dài tít tắp, êm ả và bao dung đón nhận những vỗ về rì rào không dứt của sóng biển. Từ xanh thẳm của biển khơi chợt hiện về dăm ba cánh buồm nâu, dập dìu trên đầu những con sóng bạc, đôi lúc lại ánh lên những tia nắng mặt trời. Tất cả khung cảnh biển Quảng Lợi hiện ra trước mắt chúng ta như một bức tranh sơn hải kỳ thú.

Đến với biển Quảng lợi, du khách có thể ngồi trên những chiếc thuyền ra khơi đánh cá cùng ngư dân để trực tiếp cảm nhận cảm giác lênh đênh trên biển cả. Đây là những trải nghiệm khó quên trong hành trình khám phá biển của lữ khách. Giá cả của những tour du lịch này rất phải chăng, phù hợp với phần đông túi tiền của mọi người.

Trong những khoảnh khắc êm đềm bên bờ biển, bất chợt cả không gian lại vỡ ra bởi tiếng cười, tiếng gọi nhau xôn xao của các cô gái vạn chài má hồng, chân cát, đung đưa những đôi quang gánh, thúng mủng ra đón cá về. Ta có cảm giác như họ thật hạnh phúc và bình yên với cuộc sống nơi đây, với những ân huệ mà  biển cả trao tặng. Con người và thiên nhiên cùng chung sống hài hòa, tạo cho ta cảm giác yên bình, thư thái khi đến nghỉ dưỡng tại vùng biển Xứ Thanh tuyệt đẹp này.


Đến với biển Quảng Lợi là đến với một bờ biển còn hoang sơ vào bậc nhất Việt Nam, hiện tại ở bãi biển mới có vài nhà hàng chủ yếu làm bằng chất liệu gỗ, tre, luồng vừa bảo đảm thoáng mát, tạo cảm giác thân mật gần gũi giữa chủ với khách. Chúng ta có thể chọn bất kỳ một nhà hàng hay một quán nhỏ nào và gọi các món ăn hoặc nhờ chủ nhà hàng tư vấn mà không phải chịu cảnh chèo kéo, mời mọc.

Ẩm  thực là một phần không thể thiếu được khi ta muốn khám phá vùng đất và con người nơi đây. Có nhiều món ăn hấp dẫn khẩu vị của thực khách như: Mực hấp gừng hoặc tẩm bột rán, cá chim xốt chua ngọt, tôm rang muối, cua hấp cay hay cua bóc thịt nấu canh miến, canh cá hồng nấu chua, cá trích nướng than xoan, kẹp bánh đa ăn kèm rau thơm chấm nước mắm cốt tỏi ớt, sò huyết nướng... Đặc biệt, những ngày hè nóng nực này mà được nếm thử món “canh dắt Quảng Lợi” ăn kèm với bánh đa Kế thì thật tuyệt vời!

Mới đây, biển Quảng Lợi đã được đưa vào quy hoạch thiết kế thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Những con đường khang trang đang được mở mang, những căn nhà vườn sang trọng đang xây dựng, trong tương lai không xa, biển Quảng Lợi sẽ phát huy tốt hơn nữa những tiềm năng sẵn có để sớm trở thành điểm đến quen thuộc của du khách gần xa.

Khởi công đường nối sân bay Thọ Xuân với Khu kinh tế Nghi Sơn

Ngày 29/8, UBND Thanh Hóa phối hợp với các nhà thầu khởi công tuyến đường nối Cảng hàng không Thọ Xuân với Khu kinh tế Nghi Sơn. Đường rộng 14 m, tốc độ xe tối đa 80 km/h, đạt tiêu chuẩn đường cấp 3 đồng bằng.

Đại diện chủ đầu tư cho biết, đường có bề rộng 14 m, dải an toàn rộng một mét, dải phân cách rộng 2 m, tốc độ xe tối đa 80 km/h. Tổng chiều dài toàn tuyến gần 66 km, đi qua 5 huyện: gồm Thọ Xuân, Triệu Sơn, Như Thanh, Nông Cống và Tĩnh Gia. Dự kiến công trình được xây dựng trong 3 năm với điểm đầu giao quốc lộ 47 (thuộc huyện Thọ Xuân), điểm cuối giao quốc lộ 1A tại địa phận Khu kinh tế Nghi Sơn (huyện Tĩnh Gia).

Tuyến đường nối cảng hàng không THọ Xuân đi Khu kinh tế Nghi Sơn dài gần 66 km.

Dự án có tổng vốn đầu tư gần 4.600 tỷ đồng do liên danh nhà đầu tư gồm Tổng Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại miền Trung, Tổng Công ty 319 (Bộ Quốc phòng) và Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Xây dựng Cường Thịnh Thi. 

Dự án hoàn thành sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng cao, cải thiện điều kiện khai thác giao thông từ Cảng hàng không Thọ Xuân đi Khu kinh tế Nghi Sơn; phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển giao thông vận tải.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đánh giá, đây là dự án lớn, có tầm chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội không chỉ riêng tỉnh Thanh Hóa mà cả khu vực bắc miền Trung.

Để dự án được thực hiện theo đúng tiến độ, Phó thủ tướng yêu cầu tỉnh Thanh Hóa tập trung cho công tác giải phóng mặt bằng với thời gian nhanh nhất có thể. Ngoài ra, cần giám sát chặt chẽ thi công để công trình đảm bảo chất lượng, tránh gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn.

Lê Hoàng

Chị em song sinh đỗ thủ khoa, á khoa đại học

Là hai chị em sinh đôi trong một gia đình nghèo, Phạm Thị Việt Hương và Phạm Thị Việt Hà (xã Xuân Hòa, huyện miền núi Như Xuân, Thanh Hóa) đã vươn lên học giỏi và đã đỗ thủ khoa và á khoa trong kỳ thi đại học năm 2014.

Những ngày gần đây, Làng Thanh niên lập nghiệp Sông Chàng (huyện miền núi Như Xuân, Thanh Hóa) bỗng trở nên sôi động hơn bởi tin vui hai chị em Phạm Thị Việt Hà đỗ thủ khoa Học viện Hành chính Quốc gia với số điểm 25,75 và Phạm Thị Việt Hương, á khoa Trường ĐH Luật Hà Nội với 24,25 điểm.

Điều bất ngờ là Hương và Hà là hai chị em sinh đôi (Hương là chị, Hà là em) trong một gia đình nghèo. Bên trong ngôi nhà rộng khoảng hơn 40 m2, tài sản quý giá nhất có lẽ là những tấm bằng khen, giấy khen của hai chị em trong 12 năm học.

Hai chị em song sinh Phạm Thị Việt Hương (á khoa Trường ĐH Luật Hà Nội) và Phạm Thị Việt Hà (thủ khoa Học viện Hành chính Quốc gia).

Hương kể: Từ khi học THCS, hai chị em đã phải tự đạp xe đến lớp với quãng đường từ nhà đến trường gần 10 km. Nhà có hai chiếc xe “cọc cạch”, nhưng hai chị em mỗi người phải đi một cái để lỡ xe của một trong hai bị hỏng thì chị đạp, em dắt xe và vẫn chở nhau về nhà được.

Đường đi đầy ổ gà, ổ trâu nên xe thường xuyên bị thủng săm, hỏng lốp, hư hỏng dọc đường, vì vậy có nhiều hôm hai chị em đi học mà trời tối mới về được đến nhà.

Hai chị em Hương và Hà đang cùng phụ giúp bố mẹ làm vườn.

Vất vả là vậy nhưng hai chị em vẫn luôn có ý thức học tập. Suốt 12 năm học, hai chị em luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi và thay nhau giữ vị trí nhất, nhì của lớp. Kinh tế gia đình khó khăn nên Hương và Hà không có điều kiện đi học thêm, chủ yếu là hai chị em tự học ở nhà. 

Hương đam mê với môn Sử, Hà lại học xuất sắc môn Địa lý. Khi học, hai chị em luôn cùng nhau thảo luận, kiểm tra, bổ sung kiến thức cho nhau; cùng tranh luận về cách làm bài, phương pháp học tốt nhất... Ngoài giờ học, hai chị em còn giúp bố mẹ những công việc nhà, làm vườn, làm đồi.

Ông Phạm Ngọc Ninh - bố hai em Hương và Hà - tâm sự: Khi các em đi thi, gia đình cũng chỉ mong hai chị em đỗ đại học. Nhưng khi bạn học cùng lớp báo điểm thi cho hai chị em, gia đình không ngờ Hà và Hương lại đỗ thủ khoa và á khoa của trường đại học. 

Gia đình đã rất vui mừng và tự hào. Dù sẽ có nhiều khó khăn khi cùng lo cho hai chị em học đại học, nhưng gia đình sẽ cố gắng khắc phục để các em thực hiện được ước mơ của mình.

Nguyễn Quỳnh
Giáo dục & Thời đại

Lê Hoàn - lưu danh hậu thế

“Vua đánh đâu được đấy: Chém vua Chiêm Thành để rửa mối nhục bị bọn phiên di bắt giữ sứ giả của mình; đánh tan quân của vua nước Tống là người vốn dòng họ Triệu, mau chóng đập tan mưu đồ của họ. Có thể coi vua là đấng anh hùng nhất đời vậy”.


Ngô Sĩ Liên
(Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển l)

1. ĐẠI LƯỢC VỀ LÍ LỊCH

Sách Đại Việt sử lược1 chép rằng Lê Hoàn người Trường Châu 2, nhưng sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 13-a) lại nói Lê Hoàn người Ái Châu 3. Sử cũ chép không nhất quán, song, các cuộc khảo sát sau này đều cho kết quả chung, rằng Lê Hoàn người làng Trung Lập, Ái Châu, nay làng này thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Các bộ chính sử và dã sử xưa đều chép rằng Lê Hoàn sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu (tức năm 941) tại Ái Châu. Thân sinh của Lê Hoàn là Lê Mịch, thân mẫu người họ Đặng nhưng chưa rõ tên là gì. Gia đình Lê Hoàn thuộc tầng lớp nghèo khổ ở Ái Châu, đã thế, cả thân sinh lẫn thân mẫu đều nối nhau qua đời sớm, cho nên, tuổi thơ của Lê Hoàn đầy gian nan, cơ cực. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính biên, quyển 1, tờ 14 và 15.) chép rằng:

“Trước kia, mẹ của vua là Đặng Thị, khi đang có thai bỗng nằm mơ thấy bụng mình nở ra hoa sen và hoa sen ấy kết thành hạt ngay. Đặng Thị lấy chia cho mọi người nhưng mình lại không ăn. Tỉnh dậy (Đặng Thị) lấy làm lạ lắm. Đến khi sinh con thấy con có dáng mạo khác thường, Đặng Thị nói với mọi người rằng:

- Thằng bé này về sau ắt sẽ làm nên cơ nghiệp lớn, chỉ tiếc là tôi chẳng kịp hưởng lộc mà thôi.

Được độ vài năm, thân mẫu rồi thân sinh (của Lê Hoàn) đều mất. Khi ấy, có viên quan giữ chức Quan Sát ở Ái Châu người họ Lê (hiện chưa rõ tên), thấy Vua có dáng mạo khác thường, bèn nhận làm con nuôi. Một năm, trời mùa đông rét mướt, Vua phải nằm phục xuống như hình cối úp (cho đỡ rét), chẳng dè đêm đến, cả nhà rực ánh sáng lạ bởi có con rồng vàng nằm che trên Vua. Viên quan họ Lê càng lấy làm lạ.

Khi lớn lên, vua từng giúp việc cho Nam Việt Vương (Đinh) Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng – NKT), tỏ ra có tài trí và chí lớn hơn người. (Đinh) Tiên Hoàng khen là người có mưu lược và khỏe mạnh, lúc đầu giao cho cai quản hai ngàn quân, sau thăng dần đến chức Thập Đạo Tướng Quân 4, Điện Tiền Chỉ Huy Sứ”.

Đinh Tiên Hoàng có ba người con trai được sử sách chép tới. Con trưởng là Đinh Liễn, người từng cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn mười hai sứ quân. Tháng năm (nhuận) năm Kỉ Tị (969), Đinh Liễn đã được phong làm Nam Việt Vương. Năm Nhâm Thân (972) Nam Việt Vương Đinh Liễn được cử làm sứ giả sang nhà Tống. Năm Ất Hợi (975) Nam Việt Vương Đinh Liễn được nhà Tống phong làm Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ti, hàm Kiểm Hiệu Thánh Sư, tước Giao Chỉ Quận Vương. Tóm lại, việc kế vị trong tương lai của Đinh Liễn đã rất rõ. Nhưng, tháng giêng năm Mậu Dần (978), Đinh Tiên Hoàng vì quá yêu mến người con út còn nhỏ tuổi là Hạng Lang nên đã lập Hạng Lang làm Thái Tử. Việc này khiến cho Đinh Liễn uất ức. Đầu năm Kỉ Mão (979), Đinh Liễn đã giết chết Hạng Lang. Và đến tháng mười năm ấy, thì cả Đinh Tiên Hoàng lẫn Đinh Liễn đều bị bề tôi nhỏ là Đỗ Thích giết hại.

Con thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn, do bà Hoàng Hậu Dương Vân Nga sinh hạ vào năm Giáp Tuất (974). Năm Mậu Dần (978), khi Hạng Lang được phong làm Thái Tử thì Đinh Toàn được phong làm Vệ Vương. Cuối năm 979, khi Đỗ Thích giết hại cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, triều đình bèn tôn Đinh Toàn (lúc này mới 5 tuổi) lên ngôi Hoàng Đế. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), trước nguy cơ bị quân Tống xâm lăng, triều đình bèn tôn quan Thập Đạo Tướng Quân là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế. Đinh Toàn bị giáng làm Vệ Vương như cũ và được Lê Hoàn thương như con đẻ của mình. Năm Tân Sửu (1001), Đinh Toàn mất khi cùng với Lê Hoàn di đánh dẹp ở Cử Long (vùng người Mường, nay thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.), hưởng dương 27 tuổi.

Người con út là Hạng Lang, bị giết khi còn quá nhỏ, không để lại chính tích gì đáng kể.

Như vậy là Lê Hoàn được tôn lên ngôi Hoàng Đế trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của đất nước. Bá quan văn võ đã tin ở Lê Hoàn và Lê Hoàn cũng đã thực sự xứng đáng với niềm tin lớn lao đó. Từ đây, triều Lê được dựng lên. Để phân biệt với triều do Lê Lợi dựng lên sau này, sử gọi triều Lê mở đầu từ Lê Hoàn là triều Tiền Lê. Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lãnh đạo cả nước đập tan hoàn toàn cuộc xâm lăng của quân Tống vào năm 981, và ngay năm sau (982) lại trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành. Khi biên giới mặt Bắc và mặt Nam đều đã được ổn định, Lê Hoàn đã tiến hành xây dựng và củng cố sức mạnh của đất nước. Lê Hoàn ở ngôi 25 năm (980 – 1005) và trong thời gian ở ngôi, đã dùng ba niên hiệu khác nhau:

- Thiên Phúc (980-988) vốn là niên hiệu cũ của Đinh Toàn.

- Hưng Thống (989 – 993).

- Ứng Thiên (994 – 1005).

Tháng 3 năm Ất Tị (1005), Lê Hoàn mất vì bệnh, hưởng thọ 65 tuổi. Người đời và cả một số ít sử sách vẫn gọi Lê Hoàn là Lê Đại Hành, nhưng các sử thần lỗi lạc, cũng là các bậc danh Nho thuở xưa thì không đồng ý như vậy. Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322) nói:

“Thiên Tử và Hoàng Hậu, khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng thì gọi là Đại Hành Hoàng Đế hoặc Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi đã táng vào sơn lăng yên ổn đâu đó rồi thì họp bầy tôi lại để bàn định đức hạnh hay dở mà đặt thụy hiệu, không gọi là Đại Hành nữa. Nhưng, Lê Hoàn thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu rồi truyền mãi đến nay là vì sao? ấy là vì (Lê) Ngọa Triều là đứa con bất tiếu, triều đình lại không có bề tôi Nho học để bàn giúp việc đặt thụy hiệu nên mới đến nỗi như thế” (Đại Việt sử kí toàn thư, bản kỉ, quyển 1, tờ 25-a).

Lê Hoàn có 12 người con trai, gồm 11 người con ruột và 1 người con nuôi. Tiếc thay, nếu Lê Hoàn là biểu tượng nổi bật của tinh hoa lịch sử trong thế kỉ thứ 10, thì các con trai của ông lại chỉ có đức hạnh rất tầm thường. Đó chính là nguyên do dẫn đến sự cáo chung của triều Tiền Lê vào cuối năm 1009.

Triều Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập truyền nối được ba đời, kéo dài tổng cộng 29 năm, gồm: Lê Hoàn (980 – 1005), Lê Trung Tông (ở ngôi 3 ngày của tháng 11 năm 1005) và Lê Long Đĩnh tức Lê Ngọa Triều (1005-1009). Tất cả sự nghiệp lớn của triều Tiền Lê đều do Lê Hoàn tạo lập nên. Cống hiến của Lê Hoàn trải rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, tên tuổi của Lê Hoàn sở dĩ trở nên bất diệt với lịch sử, trước hết và chủ yếu là nhờ ở tài thao lược tuyệt vời. Lê Hoàn là một trong những vị danh tướng của nước nhà.

2. LÊ HOÀN VỚI TRẬN ĐẠI PHÁ QUÂN TỐNG XÂM LĂNG NĂM 981

Quân Tống xâm lược nước ta

Năm 960, Triệu Khuông Dận đã thống nhất được phần lớn lãnh thổ Trung Quốc và lập ra nhà Tống. Thời Ngũ Đại Thập Quốc của Trung Quốc chấm dứt kể từ đó. Nhà Tống kéo dài trước sau tổng cộng hơn ba trăm năm (960 – 1278). Tuy cơ đồ cũng lắm phen thăng trầm nghiêng ngửa, nhưng chính triều đại này đã hai lần xua quân sang xâm lược nước ta. Lần thứ nhất là năm 981, bị Lê Hoàn đánh cho đại bại và lần thứ hai là năm 1077, bị Lý Thường Kiệt đánh cho tan tành.

Khi ở nước ta, nội bộ triều Đinh liên tục khủng hoảng và xung đột, thì ở Trung Quốc, triều Tống đã trải hai mươi năm xây dựng và củng cố. Tham vọng bành trướng xuống phương Nam ngày càng rõ rệt và mãnh liệt hơn. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 9 a-b) chép về mưu đồ của nhà Tống như sau:

“Mùa hạ, tháng 6 (năm Canh Thìn, 980 – NKT), quan giữ chức Tri Châu của Châu Ung bên nước Tống là Thái Thường Bác Sĩ Hầu Nhân Bảo, dâng thư tâu lên vua Tống rằng:

- An Nam Quận vương (chỉ Đinh Tiên Hoàng – NKT) và con của hắn là (Đinh) Liễn đã bị giết, nước ấy sắp đổ, có thể nhân cơ hội này mà cho quân sang đánh lấy. Nếu bỏ qua việc mưu tính lúc này, sợ lỡ mất cơ hội. Vậy, xin cho thần được về cửa khuyết để tâu bày trực tiếp chuyện có thể đánh lấy được.

Vua Tống định sai người theo đường dịch trạm, đến gọi Hầu Nhân Bảo về, nhưng bề tôi là Lư Đa Tốn nói:

- An Nam hiện đang rối loạn từ bên trong, đó chính là lúc trời khiến phải mất, triều đình ta nên bất ngờ cho quân sang đánh úp, nhanh như người đời vẫn nói là sét đánh không kịp bịt tai. Nay, nếu cứ gọi Hầu Nhân Bảo về bàn định trước thì mưu này nhất định sẽ bị bại lộ, khiến cho kẻ kia (chỉ nước ta – NKT) biết được rồi dựa vào núi ngăn biển cách mà phòng bị, thì cái thế được thua chưa biết sẽ ra sao. Vậy, chi bằng hãy giao cho Hầu Nhân Bảo ngầm đem quân sang, theo lệnh mà lo liệu việc ấy, cho được chọn tướng và đem ba vạn quân Kinh Hồ (quân đội lấy người ở các tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay. Thời Tống, đất này gọi là Kinh Lộ và Hồ Lộ (Lộ là đơn vị hành chính địa phương – NKT)) thẳng tiến sang, tạo ra cái thế vạn toàn, chẳng khác gì bẻ cành khô hay xô cây gỗ mục, không lo gì tốn người hao tên cả.

Vua Tống cho là phải.

Mùa thu, tháng bảy (năm Canh Thìn, 980 – NKT), ngày Đinh Mùi (ngày 16 – NKT), nhà Tống lấy Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu Lục Lộ Thủy Lộ Chuyển Vận Sứ, Tôn Toàn Hưng làm Lan Lăng Đoàn Luyện Sứ, Hác Thủ Tuấn làm Tất Tác Sứ, Trần Khâm Tộ làm An Bí Khố Sứ, Thôi Lượng làm Ung Châu Lộ Binh Mã Đô Bộ Thự, Lưu Trừng làm Ninh Châu Thứ Sử, Giả Thực làm Quân Khí Khố Sứ, quan giữ chức Cung Phụng Quan Cáp Môn Chi Hậu là Vương Soạn làm Quảng Châu Binh Mã Đô Bộ Thự… Tất cả cùng họp quân và hẹn ngày sang đánh nước ta”.

Như vậy là, từ quan trấn giữ biên ải như Hầu Nhân Bảo đến quan hầu cận trong triều như Lư Đa Tốn, rồi cả đến vua Tống cũng đều quyết chí xâm lược nước ta. Chúng gặp nhau trong âm mưu bất ngờ tấn công ta khi mà nội bộ nước ta đang gặp những bế tắc không nhỏ.

Lê Hoàn đại phá quân Tống.

Khi quân Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Lê Hoàn đang là phó Vương, lo việc Nhiếp Chính thay cho nhà vua lúc bấy giờ là Đinh Toàn mới 5 tuổi. Thực tế này khiến cho Định Quốc Công là Nguyễn Bặc, Ngoại Giáp là Đinh Điền và Phạm Hạp nghi ngờ rằng Lê Hoàn sẽ cướp ngôi. Họ hợp mưu dấy binh, quyết giết Lê Hoàn. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 7-b) chép rằng:

“Thái, Hậu (chỉ bà Dương Vân Nga – NKT) nghe được tin ấy lo sợ báo với Lê Hoàn rằng:

- Bọn (Nguyễn) Bặc dấy binh làm loạn, khiến cho cả nước phải kinh hoàng. Nay vua còn nhỏ tuổi, chưa thể kham nổi việc trừ nạn, vậy, các ông nên sớm liệu đi, chớ để tai họa về sau.

Lê Hoàn đáp:

- Thần ở chức Phó Vương, giữ quyền Nhiếp Chính, dù tai họa sống chết thế nào cũng đều phải đảm đương trách nhiệm.

Nói rồi, (Lê Hoàn) chỉnh đốn quân ngũ, đánh nhau với (Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc ở Tây Đô5.
Bọn (Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc thua chạy. Sau, họ lại đem thủy quân ra đánh, nhưng lại bị Lê Hoàn nhân chiều gió thuận mà phóng lửa đốt hết (Đinh) Điền bị chém tại trận còn (Nguyễn) Bặc thì bị bắt đóng cũi đem về kinh sư (chỉ Hoa Lư, Ninh Bình – NKT). (Lê Hoàn) kể tội (Nguyễn Bặc) như sau:

- Tiên Đế (chỉ Đinh Tiên Hoàng – NKT) gặp nạn, thần nhân và người trong thiên hạ đều vừa thẹn vừa căm. Người là kẻ bề tôi, vậy mà nhân lúc bối rối lại dấy binh bội nghĩa. Phận làm tôi có đâu lại thế?

Nói rồi bèn đem (Nguyễn Bặc) chém đầu.

(Đinh) Điền và (Nguyễn) Bặc đã chết, quân của Phạm Hạp cũng mất hết cả khí thế, tan tác chạy về làng Cát Lợi ở Bắc Giang (nay thuộc Hà Bắc – NKT). (Lê) Hoàn đuổi theo, bắt sống được Phạm Hạp, giải về kinh sư”.

Khi Lê Hoàn vừa dẹp xong sự phản kháng của Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp thì quân Tống cũng vừa áp sát biên giới nước ta. Tình hình rất nguy cấp. Sách trên (tờ 9-b và tờ 10-a) chép tiếp:

“Thái Hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ để đi đánh giặc, lại lấy Phạm Cự Lượng người ở Nam Sách Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng – NKT) làm đại tướng. Khi triều đình đang họp bàn kế xuất quân, Phạm Cự Lượng cùng các tướng, mặc nguyên áo trận, đi thẳng vào Nội Phủ, nói với mọi người rằng:

- Thưởng người có công, giết kẻ trái mệnh là phép sáng để làm việc quân. Nay, Chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu có hết sức liều mạng để đánh ngoại xâm rồi lập được chút công lao thì ai sẽ là người biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập quan Thập Đạo Tướng Quân (chỉ Lê Hoàn – NKT) làm Thiên Tử rồi sau mới xuất quân thì tốt hơn.

Quân sĩ nghe vậy liền hô vang: Vạn Tuế!

Thái Hậu thấy lòng người quy phục, bèn sai lấy tấm Long Cổn (áo thêu hình rồng cuộn, dành riêng cho nhà vua – NKT) khoác lên người Lê Hoàn và mời Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế”.

Sự kiện này xảy ra vào tháng 7 năm Canh Thìn (980). Ngay sau khi lên ngôi, Lê Hoàn lập tức bắt tay vào công cuộc kháng chiến chống Tống. Để có thêm thời gian hòa hoãn hết sức cần thiết cho việc chuẩn bị, Lê Hoàn đã nhân danh Đinh Toàn, gởi thư cho triều đình nhà Tống “xin được làm phiên thần” của nhà Tống, lời lẽ rất mềm dẻo. Nhưng vua Tống không nghe, lập tức gởi tối hậu thư cho Lê Hoàn, bắt phải đầu hàng.

Và cuộc đối đầu lịch sử giữa quân Tống xâm lăng với quân sĩ nước ta do Lê Hoàn cầm đầu đã diễn ra vào tháng 3 năm Tân Tị (981). Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 14-a) chép về diễn biến của cuộc đối đầu này như sau:

“Mùa xuân, tháng ba, bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đến Lãng Sơn (tên một hòn đảo, cũng là tên một vùng đất thuộc Quảng Ninh ngày nay. Nhiều sách vở đã nhầm Lãng Sơn ra Lạng Sơn – NKT), Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua (đây chỉ Lê Hoàn – NKT) tự làm tướng cầm quân đi đánh giặc. Trước hết, (Vua) sai quân sĩ đóng cọc để ngăn sông. Quân Tống rút lui về sông Chi Lăng (tức sông Thương – NKT). Đến đây, Vua sai quân sĩ giả vờ hàng để dụ Hầu Nhân Bảo, nhân đó, bắt được Hầu Nhân Bảo rồi đem chém. Bọn Trần Khâm Tộ nghe tin thủy quân đã thua trận, cũng vội rút về. Vua đem các tướng tới đánh. (Trần) Khâm Tộ thua to, quân sĩ bị giết đến quá nửa, thây người la liệt đầy đồng. Các tướng giặc như Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đều bị bắt giải về Hoa Lư. Từ đó, nước nhà mới được yên. Bầy tôi vui mừng, xin dâng tôn hiệu (cho Vua) là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng Đế”.

Tuy chỉ được chuẩn bị trong một thời gian hết sức ngắn ngủi và trong một điều kiện cực kì khó khăn, nhưng, với quyết tâm cao độ, với năng lực chỉ huy tuyệt vời, Lê Hoàn đã quét sạch quân Tống bằng một trận kết hợp tài tình giữa thủy binh với bộ binh. Trận thắng kiệt xuất này đã khiến cho nhà Tống vừa căm giận, vừa rất kính nể Lê Hoàn. Sau, hai bên giao hảo, vua Tống đã tấn phong cho Lê Hoàn, thế mà nhận chiếu thư, Lê Hoàn không lạy, sứ giả cũng không dám bắt lỗi, Lê Hoàn bảo sứ giả nhà Tống cứ dừng ở biên cương rồi chuyển đạt công văn đến chứ đừng bước vào sâu trong đất ta, chúng cũng đành phải nghe lời. Lê Hoàn từng rửa hận bằng cách thi thoảng lại cho quân sang cướp phá Như Hồng (tên một trấn của Trung Quốc – NKT). Sứ giả của nhà Tống là Lý Nhược Chuyết đến nước ta vào năm Bính Thân (996) có tỏ ý trách cứ việc này, Lê Hoàn liền nói: “Việc cướp bóc trấn Như Hồng là do bọn giặc ở cõi ngoài, chẳng hay Hoàng Đế (chỉ vua Tống – NKT) – có biết rằng đó chẳng phải là quân của Giao Châu hay không. Còn như nếu Giao Châu (chỉ nước ta – NKT) mà muốn làm phản, thì đầu tiên sẽ đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt (cả hai đều ở phía Nam của Trung Quốc ngày nay – NKT), chớ đâu có chịu dừng lại ở trấn Như Hồng mà thôi!”.6.

Vua Tống đã phải dồn căm giận lên đầu những viên bại tướng của nhà Tống. Vương Soạn bị giết chết ở Ung Châu, Tôn Toàn Hưng bị chém bêu đầu ở chợ, Lưu Trừng thì hoảng sợ rồi ốm mà chết.

Tên tuổi Lê Hoàn trong tâm tưởng của các cây đại bút.

Với thắng lợi trọn vẹn của mình, Lê Hoàn đã có công giữ vững độc lập và chủ quyền của quốc gia. Tên tuổi của ông được đời đời ghi nhớ, sự nghiệp của ông (được trăm họ tri ơn. Các cây đại bút, cũng là những sử thần lỗi lạc thuở xưa đã trân trọng chép những lời tôn kính Lê Hoàn. Các tác giả của bộ Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Vua trừ được bọn gian thần trong nước rồi được tôn lên ngôi, đuổi giặc ngoài để yên dân, khiến cho quốc gia thanh bình, Bắc Nam vô sự”.7.

Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230 – 1322) viết:

“Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc rối tóm bọn (Quách) Quân Biện, (Triệu) Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai lũ nô lệ, chưa đầy vài năm mà đã định yên được bờ cõi, công đánh dẹp và thắng trận, cho dẫu là nhà Hán hay nhà Đường (tên hai triều đại lớn của Trung Quốc – NKT) cũng không thể hơn được”8.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí (nhân vật chí), sử gia lỗi lạc thời Nguyễn là Phan Huy Chú (1782 – 1840) đã viết về Lê Hoàn như sau:

“Vua phá Tống, bình Chiêm, khiến cho cả Hoa Hạ và man di đều sợ hãi. Trung Quốc đã mấy lần sách phong khen ngợi Vua, khiến cho tiếng tăm của Vua trở nên lừng lẫy. Nói về việc trị nước thì Nhà vua luôn chăm lo đến những điều cần của dân, dốc lòng lo cho chính sự, trọng nông nghiệp, cẩn trọng nơi biên cương, quy định pháp chế tuyển dân làm lính, lại còn đổi chia các trấn… quả là rất cố gắng chăm chỉ”.

Năm 1981, giới sử học Việt Nam đã long trọng tổ chức hội thảo khoa học và lễ kỉ niệm 1.000 năm ngày Lê Hoàn đại phá quân Tống. Một lần nữa, tên tuổi của Lê Hoàn lại được kính cẩn đề cao, sự nghiệp của Lê Hoàn được hậu thế tưởng nhớ. 

Hàm rồng - Lung linh một vùng danh thắng xứ Thanh

Hàm Rồng, địa danh đã đi vào lịch sử như những trang chói lọi nhất trong cuộc kháng chiến chông giặc ngoại xâm của dân tộc. Hàm Rồng cũng là thắng cảnh kỳ thú làm say lòng “tao nhân mặc khách”.


Vùng đất Hàm Rồng từ rất xa xưa đã rất nổi tiếng bởi phong cảnh hữu tình và hàm chứa nhiều di tích lịch sử văn hóa, cách mạng và những truyền thuyết còn sống mãi với thời gian. Vùng đất uốn lượn theo dòng sông Mã với 99 ngọn núi đá, núi đất nhấp nhô tạo dáng hình con rồng. Trên núi có động Long Quang (mắt rồng) rất đẹp. Dưới núi có nhiều tảng đá lởm chởm trông như hàm rồng đang hút nước sông Mã. Núi Hàm Rồng là mỏm núi cuối cùng của dãy núi chạy dài bên hữu ngạn sông Mã từ làng Dương Xá đến cầu Hàm Rồng. là núi đất lẫn đá nhưng mỏm Hàm Rồng thì toàn đá…

Cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái nơi đây đã hình thành ra làng  Đông Sơn dưới chân núi rồng có nền văn minh cổ tiêu biểu cho thời kỳ văn hóa Đông Sơn rực rỡ và là pháo đài thép trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Làng Đông Sơn quần tụ dựa vào lưng núi Rồng. Phía trước làng là cánh đồng rộng màu mỡ, xung quanh 3 phía của làng là những núi đá nhỏ, đồi thấp dần nằm xen kẽ lẫn nhau có hình dáng kỳ dị, dân gian đã đặt tên cho từng quả đồi, ngọn núi: Núi Rồng, núi Phượng, núi Voi, núi Cánh Tiên…Làng Đông Sơn ở vào thế đất 99 ngọn núi hình con Phượng Hoàng. Ca dao cổ ở đây đã nhắc đến 99 ngọn núi này với niềm tự hào mãnh liệt: 

Chín mươi chín ngọn bên đông
Còn ngọn núi Nít bên sông chưa về
Chín mươi chín ngọn đề huề
Còn ngọn núi Nít chưa về bên đông. 

Non nước Hàm Rồng được bàn tay của tạo hóa xếp đặt vô cùng kỳ vỹ cùng với nhiều di tích đã tạo ra vùng đất: 

Thanh Hóa thắng địa là đây
Rồng vờn hạt Ngọc, Hạc bơi chân thành.

Không phải ngẫu nhiên mà vào năm 1478 vua Lê Thánh Tông sau lần bái yết Sơn lăng, thuyền ngự dừng chèo dưới chân động Long Quang theo lối mòn ngược lên động, trước cảnh trời nước hữu tình của vùng thắng tích nhà vua đã làm bài thơ “ Đề động Long Quang” và cho khắc vào vách động: 

Đất này tươi tốt lạ lùng thay
Vũ trụ dồn đong khóe mắt đầy
Bái biệt Sơn lăng thuyền ngự lướt
Vào thăm động biếc thợ trời xây
Mây rơi đầy đất nhờ ai quét
Nhà trống thấu trời mượn đá xây
Đây núi kia rừng…tiên phật quá
Như mời du khách đến cùng say. 

Năm 1501, vua Lê Hiến Tông con vua Lê Thánh Tông đến động Long Quang cũng đã làm thơ vịnh: 

Động xuyên lưng núi sáng trong ngoài
Sức chứa muôn phương gió thổi hoài
Bát ngát cành xanh xuân gặp khách
Bạt ngàn hoa thắm núi chờ ai…

Xưa kia, khi chưa có cầu, nhân dân hai bờ qua lại bằng đò ngang. Đầu thế kỷ 20, C.A Ra Gông - một chuyên gia về cầu ở Đông Dương, khi khảo sát để bắc cầu, đã nêu ra những cái khó ở đoạn sông Hàm Rồng: đáy sông đầy hang huyệt, nên không thể xây trụ giữa được, lũ lụt hàng năm không cho phép kéo dài thời gian thi công trên mặt nước (trước đó, cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp thuê kỹ sư Đức bắc cầu có trụ ở đây, cầu chưa xong đã bị lũ lớn cuốn mất, ông kỹ sư người Đức đã nhảy xuống sông tự vẫn). Chính vì thế thực dân Pháp phải xây cầu treo, hai kỹ sư người Pháp là Đay - Đê và Pillê thiết kế, chỉ đạo thi công, cầu treo gối lên sườn hai ngọn Châu Phong (bờ Bắc) và Mắt Rồng (bờ Nam). Cầu treo hình cánh cung bán nguyệt thi công trong 4 năm (1904 - 1908). Khẩu độ hẹp ô tô và tàu hoả không thể qua một lúc được. Chiếc cầu cánh cung xưa và cầu thép có trụ hiện nay là điểm trung tâm của toàn cảnh Hàm Rồng.

Thi sĩ Tản Đà có bài cảm tác "Qua cầu Hàm Rồng":

Hôm xưa chơi ở Dương Quỳ
Trắng phau ngựa trắng xanh rì rừng xanh
Hàm Rồng nay lại qua Thanh
Dưới cầu nước biếc in hình thi nhân
Người đâu sương tuyết phong trần
Non xanh nước biếc bao lần vãng lai.

Kháng chiến chống Pháp, năm 1946, quân dân ta phá sập chiếc cầu cánh cung do Pháp xây dựng. Hoà bình lập lại, năm 1961, đội cầu Trần Quốc Bình (Trung Quốc) thiết kế cầu mới có trụ và cán bộ công nhân ta thi công. Cầu vẫn được đặt trên hai hố cũ, nhưng có trụ giữa bằng 12 trụ ống, mỗi trụ đường kính xoáy sâu. Tháng 06 năm 1963, chiếc cầu hữu nghị được thông xe. Cầu mới dài 168 mét, chắc chắn hơn, to đẹp hơn, trọng tải lớn hơn cầu cũ nhiều. Đó là một kỳ công của kỹ sư và công nhân ta.

Kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chiếc cầu đó đã làm giảm uy lực của không quân Hoa Kỳ, 117 máy bay tối tân của Mỹ đã bị quân dân ta bắn cháy, vùi xác dưới đáy sông. Sau những ngày mưa bom bão đạn, cầu Hàm Rồng vẫn đứng hiên ngang, nối liền hai bờ Bắc Nam cho đến ngày đất nước toàn thắng, Nghĩa trang liệt sĩ linh thiêng sườn đồi Quyết thắng ngày đêm hương khói tưởng nhớ những liệt sĩ anh hùng đã hy sinh bảo vệ non nước này. Một chính khách nước ngoài đến thăm Hàm Rồng đã phải thốt lên: "Thật kỳ lạ, trong lịch sử chiến tranh phá hoại bằng không quân trên thế giới, chưa có chiếc cầu nào được bảo vệ lâu đến như vậy". Cây cầu thép hiện nay đang sử dụng đã được các kỹ sư Việt nam sửa lại năm 1974, hàng ngày vẫn soi bóng xuống lòng sông chói ngời dấu ấn chiến thắng.

Còn đó đồi C4 anh hùng một trong những trận địa pháo cao xạ lừng danh nhất trên mãnh đất Hàm Rồng. Còn đó di tích Nhà máy điện Hàm Rồng anh hùng, Đồn công an Hàm Rồng anh hùng. Còn đó sừng sững hai chữ “Quyết Thắng” trên núi Cánh Tiên được xếp bằng hàng ngàn khối đá của quân dân Hàm Rồng sau mỗi trận đánh, lúc không có máy bay địch, đứng cách xa hơn chục cây số vẫn nhìn thấy. 

Mảnh đất kiên cường ấy đã ghi nhiều kỳ tích trong chiến đấu và xây dựng là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh.

Có nhà thơ đã nói:

… Đất này là đất Hàm Rồng
Đi qua bom đạn vẫn hồng sắc xuân …

Huy Cận, nhà thơ lớn, đã nói về mảnh đất địa linh nhân kiệt này:

… Cánh chim Lạc Việt bay từ thuở ấy,
Nâng ta lên cánh én ngày nay.
Đánh quỷ Mỹ với bốn ngàn năm dựng nước
Đồng, Đông Sơn là xương cốt núi sông này.

Với những trang sử oai hùng đang được trân trọng gìn giữ; với một vùng núi sông kỳ vĩ, khu di tích lịch sử văn hóa Hàm Rồng là vùng thắng tích lung linh trường tồn cùng với chiều dài lịch sử dân tộc.

Trấn Nam

Trung Túc Vương Lê Lai - Công thần khai quốc

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh giành lại giang sơn, xây dựng nên nước Đại Việt tự do và phát triển trải qua 26 triều đại vua vĩ đại trong vòng 354 năm. Để có được trang sử vẻ vang đó, những nhân tài xuất chúng đã phải trải qua chiến đấu và hi sinh gian khổ và giai đoạn đầu là thời kỳ “Nhen lửa”.


Vào ngày 12 năm Ất Mùi (1415), bốn người: Lê Lợi, Lê Lai, Đinh Liệt và Nguyễn Thận, ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ Phật Hoàng, bàn đường lối bình Ngô cứu quốc, lên phương án vận động tráng niên hào kiệt, hiền tài về Lam Sơn tụ nghĩa và tôn Lê Lợi lên làm Lam Sơn Động chủ. Cuộc khởi nghĩa Lam sơn bắt đầu từ đây. Cùng với sự lãnh đạo khéo léo, đường lối quân sự lỗi lạc của Lê Lợi đã đưa cuộc kháng chiến kéo dài hơn 10 năm mới giành được thắng lợi hoàn toàn. 

Thắng lợi đó đã sinh ra 277 vị công thần khai quốc dưới chế độ vua tôi, xây dựng nên nước Đại Việt giữ được nền độc lập hơn ba thế kỉ, ghi vào trang sử vẻ vang hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sau những năm kháng chiến gian khổ, Lê Lợi lên làm vua được 6 năm. Tháng 8 nhuận năm Quý Sửu (1433) vua Lê Thái Tổ về Lam Kinh và từ trần vào ngày 22 tại chính tẩm. Trước lúc nhà vua quy tiên chầu phật còn dặn lại các hoàng tử và hoàng tộc phải giỗ Công thần đệ nhất Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày (Đại Việt sử kí toàn thư). Từ đó nhân dân ta có câu “21 Lê Lai – 22 Lê Lợi”. Ý nghĩa lời dặn trên là thế nào, thân thế và sự nghiệp Lê Lai ra sao? 

Tương truyền rằng gia đình Lê Lai là quý tộc thuộc người dân tộc ở vùng miền Tây Thanh Hóa. Cụ thân sinh ra Lê Lai là Lê Kiều, mẹ là Lê Thị Kiệu và sinh được hai người con trai. Cả là Lê Viết Giản, thứ là Lê Lai.Lê Lai sinh năm 1355 tại làng Dựng Tú, sách Đức Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa. Địa danh đó thời nhà Nguyễn là làng Tép, thôn Dựng Tú, Tổng Cốc Xá, Châu Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Ngày nay là làng Thành Sơn, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Tầm vóc thân thể Lê Lai cao, to, da ngăm đen, tính tình cương trực, chí khí cao cả lẫm liệt, dung mạo khác thường. Là con nhà quý tộc nên được học hành đến nơi đến chốn, do đó khi trưởng thành cũng kế được nghiệp cha là Phụ đạo sách Đức Giang, huyện Lương Giang. Vợ Lê Lai là bà Lê Thị Đạo, sinh được 3 người con trai theo thứ tự: Lê Lư (Lê Lô), Lê Lộ, Lê Lâm. Cả ba anh em đều là tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 

Lê Lai và Lê Lợi lệch nhau về tuổi đời nhưng cùng chí hướng và ngang về vị trí, quyền chức ở hai vùng Đức Giang và Khả Lâm nên rất thân nhau. Hai ông thường đến khu rừng bìa làng Tép gọi là Gò Sánh để đàm đạo thế thái nhân tình bình quốc sự (nay là khu đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai). Do vậy, lòng yêu nước căm thù giặc được nung nấu trong lòng các ông đã lên đến đỉnh điểm. Lê Lợi có người bạn tâm đầu ý hợp bên cạnh nên đã tạo cho ông ý chí quyết tâm cao hơn, nên ông đã đi khắp vùng để thăm dò ý nguyện của các hào kiệt tráng sĩ và thu hút nhân tâm. Sau khi Lê Lợi đã nắm bắt được thực tế thì ông bàn với Lê Lai: “Ông phải là người đầu gia nhập đội quân Lam sơn để thu hút các hào kiệt bốn phương về Lam Sơn tụ nghĩa”. Tháng 2 năm Ất Mùi (1415) đã có 3 người gia nhập nghĩa quân gồm: + Lê Lai giờ Thìn ngày 6/2 Ất Mùi (1415) + Đinh Liệt giờ Dậu ngày 8/2 Ất Mùi (1415) + Nguyễn Thận giờ Thìn ngày 9/2 Ất Mùi (1415) Đến ngày 12/3 năm Ất Mùi, bốn người tôn Lê Lợi lên làm Lam Sơn Động Chủ. Từ đó cuộc khởi nghĩa đi vào chiều rộng lẫn chiều sâu ở các làng quê của đất nước. Được toàn dân ủng hộ nên đã tuyển mộ được nhiều nghĩa sĩ yêu nước về Lam Sơn tụ nghĩa. Vì vậy, Lê Lợi đã tổ chức củng cố lại bộ máy lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa cho phù hợp với thời thế lúc này. Đến 20 Tháng 5 năm Ất Mùi (1415) ông đã thành lập ra hội đồng mưu lược gồm có 9 người: Lê Lợi, Lê Lai... Lê Văn Linh và bàn lập Hội thề Lũng Nhai, nhằm mục đích gây lòng tin tưởng, ý chí chiến đấu cho tướng sĩ nghĩa quân, đồng thời cử Lê Lai và Đinh Liệt đi tìm nơi tổ chức hội thề. Vì thế trong nhật kí của Đinh Liệt viết ngày 12/14/9 năm Ất Mùi (1915) như sau: Ta và Lê Lai đạp Linh Sơn Năm ngày ngang dọc chẳng hơi thôn (không làng bản nào) Hiểm trở sơn cùng và thủy tận Lâm nguy chỉ tàm tạm dung thân. Đúng giờ Thìn ngày 10/2 Bính Thân (1916), Tại Mường Giao Lão núi Linh Sơn, 18 tướng đã thề cùng nhau như anh em một nhà và đứng sau Động chủ Lê Lợi là Lê Lai. 

Sau Hội thề Lũng Nhai, đội quân Lam Sơn đã khởi sắc, có nhiều trận thắng lớn, thu phục được lòng dân, huy động được nhân tài và vật lực cho cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đó Tướng Lê Lai chỉ huy đánh một trận thắng lớn nhất trong đời binh nghiệp của ông vào ngày mồng 2 tết. Về sau lập đền thờ Lê Lai nhân dân thôn Dựng Tú lấy ngày 8 tháng giêng để mừng công của Ngài và là ngày mở hội khai hoa cho làng Tép, nơi chôn nhau cắt rốn của Ông.Từ những thắng lợi giòn giã của quân và dân với đường lối tổ chức, lãnh đạo khéo léo của ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa, đã tạo ra sức mạnh tổng hợp làm cho thế cuộc thay đổi rất lớn. Vì vậy, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lại phải họp một lần nữa vào ngày 10 tháng chạp năm Đinh Dậu (1917), ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa họp bàn; Hội đồng mưu lược đổi thành Hội đồng mưu lược tối cao, số người tham gia từ 9 người lên đến 13 người: Lê Lợi, Lê Lai, Lê Văn Linh, ... Bùi Quốc Hưng và Lê Lợi lên ngôi Vua. Giờ Thìn ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất nhằm ngày 7 tháng 2 năm 1418, Lê Lợi xưng Vương lấy niên hiệu là Bình Định Vương; Bộ máy vương triều có hai hàng quan tướng: Bên hàng văn có 18 người, đứng đầu là Nguyễn Thận; bên hàng tướng võ có 51 người trong đó người đứng đầu là Lê Lai. Vương triều hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Mưu lược tối cao đứng đầu là Bình Định Vương. Cục diện chiến trường lúc này thay đổi rất lớn ngày càng có lợi cho nghĩa quân ta. Do đó, giặc Minh cùng vương triều ra sức đàn áp một cách khốc liệt. Do thế và lực không cân sức, toàn bộ nghĩa quân phải rút lên núi Linh Sơn để cố thủ. Cuộc chiến đấu không cân sức này tưởng chừng như cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chỉ đi vào Lịch sử. Song, do sự sáng suốt của Hội đồng mưu lược tối cao, hiệu lực của Hội thề Lũng Nhai, cuộc khởi nghĩa đã bảo toàn được lực lượng cho đến ngày toàn thắng ... Bấy giờ quân Lam Sơn ít lính, thiếu lương, thường bị quân Minh đánh bại. 

Theo sách Đại Việt thông sử, cuối tháng 4 năm 1419, Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Lần này, quân địch bủa vây trùng điệp, vòng vây ngày càng khép chặt lại, vùng Linh Sơn lúc này còn rất hoang sơ, không có dân ở, chính nghĩa có ý chí quật cường, không dân nương tựa hơi sương. Đêm ngày 28/4 năm Kỷ Hợi (1419), Hội đồng mưu lược họp bàn tìm cách cứu vãn, tình thế lúc này như ngàn cân treo sợi tóc. Lê Sát, Đinh Bồ, Lê Thạch, Lê Thục tỏ thái độ đánh đến người cuối cùng ít nhất cũng giết được năm sáu ngàn tên địch. Đinh liệt đứng dậy nói “Tinh thần hy sinh của tướng sỹ nghĩa quân ta còn quý hơn vàng ngọc, song sự hy sinh để rồi cuộc khởi nghĩa cũng đi theo luôn, chỉ để lại hồi âm cho mai sau thì không bằng phải bàn bạc suy nghĩ tìm mọi cách cứu lấy nghĩa quân sống và tiếp tục hoàn thành đại sự ...”. Bình Định Vương và các tướng sĩ tỏ thái độ tán thành với cách đặt vấn đề của tướng Đinh Liệt. Sau đó Lê Lợi hỏi: “Có ai dám bắt chước Kỷ Tín đời Hán không?”. Các tướng đều ngồi yên không ai dám thưa. Lê Lai đứng dậy nói: “Tôi nguyện làm kỉ tín của Hán cao tổ... Tôi xin đi ”. Bình Định Vương và Tướng sĩ cảm động rơi lệ không ngớt. Lê Lai nói: “ Bây giờ đang nguy khốn, nếu ngồi giữ mảnh đất nguy hiểm, vua tôi cùng bị diệt, sợ sẽ vô ích. Nếu theo kế này, may ra có thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì?”. Lê Lợi ôm chặt lấy Lê Lai nói: “Lịch sử ghi danh vĩnh thùy bất hủ” và vái trời khấn rằng: “ Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi và con cháu các tướng tá công thần, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung điện biến thành rừng núi, ấn triện biến thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn”. Đúng giờ Thìn ngày 29 tháng 4 Năm Kỷ Hợi (1419), Tại địa danh Trịnh Cao trên núi Linh Sơn, Lê Lai nhận áo hoàng bào của Bình Định Vương cưỡi voi cùng 500 quân thẳng hướng Đông Bắc tiến đánh trại quân Minh. Quân Minh đổ ra đánh. Lê Lai thúc voi xông thẳng vào giữa trận hô to: “ Ta là chúa Lam Sơn đây!” Quân Minh ngỡ là Lê Lợi nên xúm lại đánh kịch liệt. Do không cân sức, Lê Lai bị quân Minh bắt và đem về Tây Đô hành hình. Lê Lợi nhân lúc việc vây hãm của địch lơi lỏng, cùng các tướng chạy ra đường khác, trốn thoát. Cảm động lòng trung nghĩa của ông, Lê Lợi sai người ngầm tìm được thi hài ông, mang về an táng ở Lam Sơn. Tướng Đinh Liệt thương tiếc Lê Lai đã khóc: Dịch

Kỷ tín tằng tái hiện Lê Lai nguyên thế thiên Tử trung hoàn sinh địa Đại Nam sử vĩnh truyền Niệm hà thời sinh hỏa Tứ nhân đệ nhất kiênTừ Lũng Nhai minh thệ Niêm nhị khóa đào viên Xưng Vương Tết Nguyên Đán Tướng bài trạm thủ tiên Hà nhật thành đại nghiệp Ẩm hà tất tư nguyên Kỷ tín lại xuất hiện Lê Lai nguyện thay trờiTrong chết tìm đất sốngSử Nam mãi sáng ngời Nhớ ngày nào nhen lửa Kiên định nhất bốn người Từ Lũng Nhai minh thệ Vườn đào hai hai cây (1)Xưng Vương tết Nguyên Đán Tướng đứng cạnh lễ đài Ngày nào thành đại nghiệp Uống nước nhớ nguồn khơi Khi cuộc kháng chiến hoàn thoàn thắng lợi, Lê Lợi đã đưa được hài cốt Lê Lai về Lam Kinh mai táng tại Hậu Lăng. Từ đó trong bài chúc văn tế ở Lam Sơn có đoạn:....Lam Sơn tạo ứng nghĩa tòng sự Đồng hưu vĩnh chi ư sơn hà Hiệp mưu tướng sĩ hữu chi công Điểm phong báo phong, điểm chi vi mạc tướng Hoàng gia cung đồ chu ứng gia phong Ngẫu tự mỹ tự khả gia phong Đại ý: Cùng phất cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn, sống cũng ở Lam Sơn, chết cũng ở Lam Sơn. Thoát được vòng vây, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được giữ lại và đã giành lại được giang sơn đất nước vào ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (1427). Giờ Thìn ngày 15 tháng 3 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi đăng quang, chính thức lấy niên hiệu là THUẬN THIÊN HOÀNG ĐẾ. Thuận Thiên Hoàng Đế thứ nhất (1428), Nhà vua truy phong tướng Lê Lai “Đệ nhất khai quốc công thần suy đồng hiệp đức mưu bảo chính Lũng Nhai công thần là Thiếu úy”.Thuận Thiên Hoàng Đế thứ hai – tháng 12 Kỷ Dậu (1429), Nhà vua sai Nguyễn Trãi viết 2 bản lời thề ước và nhớ ơn Lê Lai đặt vào hòm vàng và phong Thái úy, trân trọng đặt trong cung điện của mình... đồng thời chiếu chỉ cho thôn Dựng Tú lập đền thờ Ngài tại Làng Tép và cắt cho 10 mẫu điền để phục vụ tế lễ tứ thời bát tuyết. 


Ở sau đền còn giữ được nhiều cây cổ thụ có độ tuổi hàng trăm năm phong cảnh uy nghiêm, khí hậu ôn hòa quanh năm. Trước đền là hai cây đại, tương truyền có từ lúc Lê Lợi cho dựng đền. Qua cửa tam quan sẽ xuống hồ bán nguyệt, hồ có đường kính 60 mét. Bờ hồ có tường hoa lát gạch để bảo vệ hồ được lâu bền. Khi ta đi xuống mép nước qua các bậc, sẽ phát ra âm thanh vọng lại, thật là kỳ ảo. Các cụ quan niệm đó là nơi tụ Sơn, tụ Thủy. 

Cùng với Lê Lợi là rất nhiều nhân tài kiệt xuất trong đó có Lê Lai là tấm gương sáng mãi muôn đời về sau. Vì vậy, đền thờ Ngài từ lúc dựng lên, không lúc nào mất mùi hương thơm bay vào không gian lan tỏa bám vào các cây đại thụ lớn dần theo thời gian và lịch sử. Chùa Tép – Đền thờ TRUNG TÚC VƯƠNG LÊ LAI, hai tên nhưng là một, nơi tưởng niệm là nơi an nghỉ của anh hùng Lê Lai đã liều mình cứu chúa để tô vẽ thêm cho lịch sử Việt Nam ngày càng sáng chói. Vì thế, trong năm có hai ngày hội lớn là ngày 8 tháng giêng và ngày 21 tháng 8 Âm lịch, ngày đó gió thảm mưa sầu như thương tiếc người anh hùng vĩ đại vì nước quên mình cứu lấy giang sơn xã tắc thoát khỏi khổ đau loạn lạc. Đồng thời khách thập phương cũng kéo nhau về dự hội để tưởng nhớ công đức uy danh của Ngài. Ngoài ra, nhân dân làng Tép thông Dựng Tú còn phải hành lễ các ngày kỵ 29 tháng 4 Âm lịch và các tiết lễ: Kỳ yên; kỳ phúc; kỳ hòa; trung nguyên; cơm mới.... Thật tự hào làm sao các thế hệ hôm qua, hôm nay và mai sau !

T.S