Triệt phá tụ điểm đánh bạc dưới hình thức cá độ mùa worldcup

Vào khoảng 12 rưỡi đêm qua - ngày 26/6. Trong khi diễn ra trận cầu giữa Đức - Mỹ. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH công an tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với công an TP.Thanh Hóa bất ngờ kiểm tra hành chính đối tượng Trần Thị Hồng, sinh năm 1974 ở 36A Bến Ngự, phường Trường Thi, TP.Thanh Hóa (gần cầu treo).
Triệt phá tụ điểm đánh bạc dưới hình thức cá độ mùa worldcup
Đối tượng Hồng cùng tang vật

Qua đó đã phát hiện và bắt quả tang Trần Thị Hồng đang tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá tại nhà..

Tại hiện trường, lực lượng công an đã thu giữ hơn 50 triệu đồng, 01 máy tính Casio và nhiều phiếu giấy ghi cá độ của các con bạc qua từng trận đấu. 
Được biết, Trần Thị Hồng là đối tượng thường xuyên đứng ra tổ chức cá độ bóng đá cho các đối tượng trên địa bàn thành phố. Riêng trong 2 ngày 24, 25/6 Hồng đã tổ chức cho nhiều đối tượng tham gia cá độ với tổng số tiền khoảng 50 triệu đồng

Chỉ đạo đẩy mạnh công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Liên quan vụ việc hàng loạt người lao động tại công ty giày hongfu bị ngộ độc ẩm thực. Hôm qua, tại Trung tâm Hội nghị 25B đã tổ chức Hội nghị Sơ kết tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm 6 thánh đầu năm và định hướng công tác 6 tháng cuối năm 2014.

Xem thêm:
>> Tin tức Thanh Hóa mới
Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Phạm Đăng Quyền – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh ATTP tỉnh Thanh Hóa; Đỗ Thái Hòa - Chi cục trưởng Chi cục An Toàn vệ sinh thực phẩm cùng lãnh đạo các sở, ngành thành viên Ban Chỉ đạo cấp huyện, thị, thành trên toàn tỉnh. 

Chỉ đạo đẩy mạnh công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo kết quả đảm bảo ATTP 6 tháng đầu năm và định hướng công tác 6 tháng cuối năm 2014. Theo đó, số vụ ngộ độc thực phẩm đã giảm rõ rệt so với cùng kỳ, 6 tháng đầu năm 2014 toàn tỉnh ghi nhận có 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 5 người mắc (so với 6 tháng đầu năm 2013, toàn tỉnh có 5 vụ ngộ độc thực phẩm với 64 người mắc), giảm 80% số vụ ngộ độc thực phẩm. Công tác thanh, kiểm tra ATTP của tuyến tỉnh đã có độ bao phủ rộng, phát hiện và xử lý nghiêm dứt điểm các cơ sở vi phạm, đặc biệt vào dịp tết Giáp Ngọ, trong tổng số 190  tổ chức, cơ sở được thanh, kiểm tra, có 53 tổ chức, cá nhân vi phạm. Hình thức vi phạm chủ yếu là không đủ điều kiện kinh doanh, kinh doanh thuốc BVTV vi phạm nhãn mác, thuốc không đảm bảo chất lượng… Riêng trong tháng hành động vì chất lượng vệ sinh ATTP, 100% các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn toàn tỉnh đã ký cam kết chấp hành các quy định về bảo đảm ATTP. Thống kê tháng an toàn trên địa bàn toàn tỉnh không để xảy ra trường hợp ngộ độc nào.

Tuy nhiên, còn một số hạn chế nhất định như tại một số huyện chưa thực hiện nghiêm túc kế hoạch của Chủ tịch UBND tỉnh, công tác triển khai còn thấp, thiếu sự quan tâm của các cấp ủy chính quyền. Việc xử lý vi phạm trong thanh, kiểm tra còn chưa quyết liệt, tỷ lệ cơ sở bị phạt tiền so với số cơ sở còn thấp, các đoàn thanh, kiểm tra chủ yếu nhắc nhở các cơ sở thay đổi hành vi vi phạm. Công tác truyền thông ở tuyến xã/phường còn ít; công tác báo cáo các số liệu định kỳ của các ngành thành viên tuyến huyện về BCĐ tỉnh còn chưa tốt…
Từ đó, đồng chí Đỗ Thái Hòa - Chi cục trưởng Chi cục An Toàn vệ sinh thực phẩm nhấn mạnh: 6 tháng cuối năm 2014, công tác vệ sinh ATTP cần được đẩy mạnh tuyên truyền hơn nữa; Đặc biệt tại các khu du lịch Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến; các khu, cụm công nghiệp trên toàn tỉnh, BCĐ liên ngành vệ sinh ATTP tỉnh Thanh Hóa cần triển khai mạnh công tác đảm bảo ATTP, tổ chức thanh, kiểm tra theo đúng định kỳ quy định. Thực hiện các hoạt động khảo sát điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nước sử dụng chế biến thực phẩm tại các trường mầm non ở nông thôn, có nguy cơ ngộ độc cao do ô nhiễm E.coli, Coliform…

Hội nghị được nghe ý kiến của các đại biểu đóng góp về cách làm hay, hiệu quả trong công tác đảm bảo vệ sinh ATTP của các địa phương có khu du lịch như Sầm Sơn và khu công nghiệp nơi tập trung nhiều công nhân lao động như Tĩnh Gia, Thọ Xuân; như đẩy mạnh công tác tuyên truyền vệ sinh ATTP đến từng cơ sở thôn, xóm, từng người dân để họ ý thức cao độ được trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân trong công tác vệ sinh môi trường nói chung và vệ sinh ATTP nói riêng.
Sau khi nghe báo cáo và ý kiến của các đại biểu, đồng chí Phạm Đăng Quyền - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Liên ngành vệ sinh ATTP đã ghi nhận kết quả đã đạt được trong công tác vệ sinh an toàn thực phẩm 6 tháng đầu năm 2014. Song đồng chí Phó Chủ tịch cũng thẳng thắn chỉ ra những địa phương còn xem nhẹ công tác vệ sinh ATTP, yêu cầu BCĐ các cấp cần tăng cường sự phối hợp trong công tác đảm bảo vệ sinh ATTP trong lĩnh vực mình phụ trách, công tác truyền thông và thanh, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm và thực hiện vào đúng thời điểm, địa điểm, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người quản lý, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhận thức của người tiêu dùng biết cách lựa chọn bảo quản và sử dụng thực phẩm an toàn

Tên danh nhân gắn liền những cung đường lịch sử Thanh Hóa

Truyền thống lịch sử gắn liền với đời sống thường nhật bởi những cái tên thân thương của những danh nhân. Hẳn ai trong chúng ta cũng không thể nhớ rõ được hoặc thậm chí lịch sử về tên chính con đường mà bạn đang sinh sống hiện nay. Dưới đây là danh sách tên danh nhân Thanh Hóa đi cùng năm tháng - kiến thức lịch sử không nên bỏ qua...

Danh nhân Thanh Hóa
Hình ảnh tượng vua Lê Thánh Tông - danh nhân thanh hóa


Lê Thị Hoa (TK I) (tên đường nối giữa Tống Duy Tân và Trịnh Khả)

Quê ở xã Nga Thiện (Nga Sơn), là một nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng. Bà đã cùng 4 người con tham gia khởi nghĩa và đã lập được nhiều công tích

Bà Triệu (226 - 248) (Nằm trên trục đường 1a kéo dài từ Bưu điện tỉnh đến cầu Hạc)

Quê ở vùng núi Quân Yên, xã Ðịnh Công (Yên Ðịnh). Năm 20 tuổi, cùng anh là Triệu Quốc Ðạt dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Ngô. Khi Triệu Quốc Ðạt mất, nghĩa quân tôn bà làm thủ lĩnhvà bà tiếp tục kháng chiến. Cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Ðức, Nhật Nam và làm rung động cả Trung Quốc.

Trần Xuân Soạn (1849 - 1923) (nằm bên hông bến xe phía bắc nối giữa đường Lý Nhân Tông và Bà Triệu)

Quê ở làng Thọ Hạc, TP Thanh Hoá, do chiến công làm tới Ðề đốc năm 1885, ông được phái kháng chiến trong triều đình Huế giao chức đề đốc quân vụ cůng Tôn Thất Thuyết tổ chức chống Pháp. Khi về Thanh Hoá, ông cùng các lãnh tụ nghĩa quân lập căn cứ Ba Đình, Mã Cao... và được giao nhiệm vụ đóng quân ở Thạch Thŕnh hỗ trợ cho Ba Ðình. Ông mất tại Long Châu (Trung Quốc)

Nhữ Bá Sĩ (1787 - 1867)

Người làng Cát Xuyên (Hoằng Cát, Hoằng Hoá), đỗ cử nhân năm 1821, xin cáo quan về quę dạy học, sau đó ông mưu việc chống Pháp, việc chưa thành thì mất. Ông là người có học vấn uyên thâm, viết sách về giáo dục, văn hoá, lịch sử... tiêu biểu nhất là tác phẩm Việt sử tam bách vịnh, Thanh Hoá tỉnh chí

Lê Khôi (?- 1446) (là con đường mới thuộc P.Lam Sơn nối giữa đại lộ Lê Lợi với Đinh Lễ)

Người Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên (Thọ Xuân ngày nay), là cháu gọi Lê Lợi bằng chú ruột và là một trong những người đầu tiên đứng dưới cờ nghĩa Lam Sơn. Ông lập được nhiều công lớn: đánh thắng trận Khả Lưu, hạ thŕnh Xương Giang...; bình Chiêm mở mang bờ cõi, dẹp nội loạn Bế Khắc Thiệu, Nông Ðắc Thái, nhiều lần đánh thắng Ai Lao, giữ vững biên ải quốc gia. Ông có nhiều kế sách trị bình, lấy đức và chính làm đầu, dân được běnh yên. Ông là người có công to, đức lớn, tài cao, nên các triều vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông) đều tin dùng, cho tham dự việc triều chính. Mất truy tặng Thái uý Tam quốc công

Trịnh Kiểm (1503 - 1570)

Quê làng Sóc Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc. Ông là người có công lớn trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là người mưu lược đã cùng tướng sĩ đánh lui 5 đợt tấn công của nhŕ Mạc, bảo vệ vững chắc Thanh Hoá. Ông cũng đă hết sức chăm lo triều chính, lập chế độ thuế khoá, khuyến khích nghề nông, mở rộng thi cử để chọn nhân tŕi... Ông là ông tổ của dòng chúa Trịnh

Lê Ðình Kiên (1620 - 1704)

Quê làng Thiết Ðinh, xã Ðịnh Tường (Yên Ðịnh). Ông có công trong việc xây dựng phố Hiến (Hưng Yên) thành một trung tâm buôn bán lớn của đất nước. Ông là nhà ngoại giao, ngoại thương tài năng, góp phần quan trọng vào việc mở mang đất nước

Nguyễn Kim (? - 1545)

Là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc trung hưng nhà Lê. Sự nghiệp chưa thành, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc, mất năm 1545. Ông đă sáng suốt nhìn nhận và giao quyền lực lại cho con rể là Trịnh Kiểm trước khi mất. Ông là người mở nghiệp cho dòng chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn

Lương Hữu Khánh (TK XVI) (nằm khu vực ngã 3 voi - giờ là ngã tư voi giải tỏa nên không còn)

Quê ở làng Hội Triều, nay là xã Hoằng Phong, Hoằng Hoá. Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội, không thi đěnh dưới triều Mạc Ðăng Doanh. Ông có công trong việc khôi phục nhà Lê, được thăng tới thượng thư bộ binh, tước Đạt quận công. Ông đă để lại các tác phẩm như Quan sử, Tân quan văn kę phú... 

Trịnh Khả (1399 - 1451) (Là con đường chạy song song đường Quang Trung nối giữa Nguyễn Huy Tự - Trần Cao Vân)

Người làng Kim Bôi huyện Vĩnh Lộc. Ông là một trong 18 người có mặt trong hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (1416). Khi Lê Lợi vây thành Nghệ An, ông cùng Lê Văn Linh được cử làm tướng văn, tướng võ. Cùng với Lê Triện, Ðinh Lễ đánh tan 5 vạn quân của Vương Thông ở Ninh Kiều, chặn đứng 2 vạn quân của Mộc Thạnh ở ải Lę Hoa. Ông được phong tới chức Nhập nội thái uý, běnh chương quân quốc trọng sự, thượng trụ quốc, được ban kim ngư trang kim phù, tước Quốc thượng hầu. Tháng 9 năm thứ 9 (1451), đời vua Lę Nhân Tông, ông cùng con là Trịnh Bá Quát bị hại, vì có kẻ gièm pha với Thái hậu là cha con ông làm phản. Năm thứ 11 (1553), Lê Nhân Tông coi việc triều chính khôi phục lại quan tước cho ông. Ðời Thánh tông truy phong Hiển khánh vương

Hà Tông Huân (1697 - 1790)

Người làng Kim Thành, huyện Yên Ðịnh, năm 28 tuổi đỗ bảng nhăn. Ông là người thông minh, tài trí được trọng dụng, ra vào phủ chúa bàn việc quân quốc cơ yếu, làm đồng tham tụng rồi nhập chính tham tụng, kiêm việc ở Quốc tử giám. Khi về hưu vẫn được vời ra làm bậc ngũ lão, được gia thăng thiếu bảo, tước Huy quận công, khi mất được tặng hŕm thái phó

Lê Văn Hưu (1230 - 1322) (Nằm bên hông chợ Tây Thành cắt ngang đường Nguyễn Trãi)

Quê ở xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá. Năm 1247, thi đỗ bảng nhăn. Năm 1272, lŕm hàn lâm viện học sĩ kiêm quốc sử viện quán tu và hoàn thành bộ sử Ðại Việt sử ký gồm 30 quyển. Ông không chỉ là nhà viết sử lỗi lạc đầu tiên của nước nhà mà còn là nhà quân sự với chức thượng thư bộ binh kiêm chưởng sử, tước Nhân uyên hầu

Nguyễn Hoàng (1524 - 1613)

Là con trai thứ hai của Hưng Quốc công - Nguyễn Kim, vào trấn thủ Thuận Quảng, mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn với vương triều Nguyễn

Nguyễn Hoàn (1713 - 1791)

Quê ở làng Lan Khê, xã Nông Trường (Triệu Sơn). Năm 1743, đậu tiến sĩ, thăng chức lại bộ thượng thư. Năm 1777 được thăng chức thái phó, quốc lăo... Không những là một vị quan to trong triều, ông còn biên khảo những tác phẩm lịch sử như Quốc sử tục biên, Ðại Việt đăng khoa lục...cùng với một số tác giả khác

Lê Hoàn (941 - 1005) (Con đường được đánh giá là trung tâm TP. Thanh Hóa nối từ Ngã Ba Bia  Trường Thi tới 25A - Quang Trung giao Trần Phú)

Quê xã Xuân Lập, Thọ Xuân, từ một người lính bình thường, ông đã lập được nhiều chiến công, được Đinh Bộ Lĩnh giao cho làm Thập đạo tướng quân tổng chỉ huy quân đội. Năm 980, trước xự xâm lược của quân Tống, ông được quân sĩ vŕ triều đěnh Hoa Lư tôn làm hoàng đế. Ông đă tổ chức quân dân Ðại Việt hoàn thành cuộc kháng chiến chống Tống. Ông là nhà ngoại giao tài giỏi, có công lớn trong mở mang kinh tế, phát triển nông nghiệp, giữ yên bờ cõi đất nước

Lê Phụng Hiểu (? - ?) (Nằm sau công viên thanh quảng. Là con đường ngắn ít biết đến nối giữa Trần Phú và nhà Văn Hóa Lao Động)

Là người hương Băng Sơn, Châu ái (nay là xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hoá). Ông khỏe mạnh hơn người, võ nghệ cao cường, Lý Thái Tổ dùng làm vũ vệ tướng quân. Khi Thái Tổ mất, các vương gây biến, ông đánh dẹp, tôn Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều Lý. Ðược phong Ðô thống thượng tướng quân, tước hầu. Ông còn có công lao lớn trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi phía Nam. Khi chết được phong làm phúc thần

Nguyễn Hiệu (1664 - 1735)(Là con đường nhỏ mới ngắn tí ti. Bạn có thể tìm trường cấp III Lý Thường Kiệt và đi vào ngõ đối diện khoảng 100 mét sẽ gặp)

Là người làng Lan Khê, Nông trưởng, Triệu Sơn năm 27 tuổi đỗ hội nguyęn, thi đỗ đồng tiến sĩ. Ông là người tài giỏi, trung hậu và ngay thẳng nên được trọng dụng, làm quan đến thượng thư rồi tể tướng. Khi mất (1735) được triều đěnh truy tặng thái bảo, đại tư đồ, gia phong lŕm phúc thần

Lê Hy (1646 - 1702)

 Quê ở xã Ðông Khê, Ðông Sơn. Năm 1664 đỗ tiến sĩ. Tŕi năng của ông được các chúa Trịnh tin důng, cử đi sứ Trung Quốc được phong chức thượng thư bộ binh rồi thăng Tham tụng (Tể tướng) tước Lai sơn bá. Ông là nhà viết sử nổi tiếng với tác phẩm Bản kỷ tục biên do ông chủ biên

Nguyễn Hữu Hào (1647 - 1713)

Quê ở làng Gia Miêu, Hà Long, Hà Trung. Có công lớn với chúa Nguyễn trong các cuộc giao tranh với chúa Trịnh, được phong chức cai cơ, chưởng cơ rồi chức trấn thủ Quảng Běnh..., ông còn sáng tác truyện thơ nôm Song tinh bất dạ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Khi mất truy tặng Ðôn hậu công thần trấn phủ

Trần Hạng (1372 - 1399)

Quê ở xã Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc), đậu Thái học sinh và có công trong cuộc kháng chiến chống quân Chiêm Thành của quân dân nhà Trần

Cao Ðiển (1853 - 1896)(Là con đường nhỏ cạnh Dương Đình Nghệ. Để tìm con đường này bạn cứ chạy trên Dương Đình Nghệ gần đến Cầu Vượt Đại Lộ)

Quê ở làng Trinh Sơn, xã Hoằng Giang, Hoằng Hoá. Ðược Tôn Thất Thuyết cử chỉ huy trận tấn công vào sứ quán và đồn binh Pháp ở Huế. Sau đó về Thanh Hoá cůng Tống Duy Tân xây dựng căn cứ Hůng Lĩnh (Vĩnh Lộc) chống Pháp. Trên đường ra Bắc liên lạc với nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, ông bị Pháp bắt tại thị xã Bắc Giang và xử chém tại thị xã Thanh Hoá.

Ðại Thặng Ðăng (Pháp danh) (TK VIII)

Người Thanh Hoá, có tên Phạn là Mahayana Pridipa, uyên thâm phật học, đến Trung Quốc, ấn Ðộ nghiên cứu và truyền đạo, chú giải kinh phật. Ông mất tại chùa Niết Bàn (ấn Ðộ), thọ 60 tuổi
 

Lê Tắc (TK XIV)

 Quê ở Ðông Sơn, theo Trần ích Tắc hàng giặc Nguyên và làm quan Phụng nghị đại phu ở Hán Dương (Trung Quốc). ở Trung Quốc, ông đă hoàn thành bộ An Nam chí lược gồm 20 cuốn nói về lịch sử Việt Nam từ thượng cổ đến đời Trần

Tống Duy Tân (1837 - 1892)(Con đường này cũng không dài - nằm trên QL47 cũ chạy thẳng sầm sơn. Chỉ vẻn vẹn từ QL1A tới Cầu Cốc)

Ông quê ở xã Vĩnh Tân (Vĩnh Lộc). Ông đậu tiến sĩ năm 1875, lŕm tri huyện Vĩnh Tường, án sát Sơn Tây, chánh sứ sơn phòng Quảng Hoá. Năm 1886, ông cùng con là Tống Nhữ Mai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Ông cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Ðạt, Trần Xuân Soạn... lãnh đạo nghĩa quân Ba Ðình, ông đã bị giặc Pháp bắt tại hang Niên Kỷ (Bá Thước) và hi sinh tại thị xã Thanh Hoá năm 1892

Nguyễn Ðôn Tiết (1836 - ?)

Quê ở xã Hoằng Ðức (Hoằng Hoá) đậu phó bảng năm 1879. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần vương, ông đă mộ quân phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Ðạt tấn công đồn Pháp ở Bút Sơn. Sa vào tay giặc (1886), ông bị đầy đi tů Lao Bảo và hi sinh ở đấy

Lê Thánh Tông (1442 - 1497)(Kéo dài từ ngách đường Lê Lai chạy thẳng xuống QL1A - đường Quang Trung gần cầu Bố)

Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhân Tuất (1442) huý là Tư Thành, là con thứ tư vua Lê Thái Tông và Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao; là cháu nội vua Lê Thái Tổ, mất ngày 30 tháng 12 năm Ðinh Tỵ ( 1497). Năm 1460, ông lên ngôi vua trị vì được 38 năm với hai nięn hiệu: Quang Thuận ( 1460 - 1469) và Hồng Ðức ( 1470 - 1497). Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam. Bộ luật thành văn đầu của nước ta, được soạn dưới thời ông. Ông lŕ người sáng lập hội Tao Ðàn, để lại nhiều tập thơ, 1 tập truyện ký và rất nhiều bài viết đặc sắc trong các tập Hồng Ðức thi tập, Thánh Tông di cảo... 

Lê Trạc Tú (?)

Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), ông nội là Tán Thiện, chú là Tán Tương cùng đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499), ông đỗ Ðệ nhất giáp chế khoa, khoa Ðinh Sửu (1577), khi làm Thượng thư bộ lại và Tể tướng ông cất nhắc người hiền tài, ông sống ngay thẳng, trong sạch, trong nhà không có của dư

Ðào Duy Từ (1572 - 1634) (Có thể nói con đường này gọi là khu ẩm thực của Thành Phố với rất nhiều mặt hàng đc bày bán "tràn lan" điểm tiếp nối giữa Tống Duy Tân và Tân An)

Quê làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Ông là một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn, một nhà quân sự, ngoại giao, văn hoá tài giỏi. Ông đã có công giúp nhà Nguyễn mở mang kinh tế, giữ yên lãnh thổ, được phong tước Lộc Khê hầu và thờ trong Thái Miếu, ông là tác giả của tác phẩm Hổ trướng khu cơ, Ngoạ Long cương Vãn, Tư Dung vãn... 

Lê Bật Tứ (1562 - 1627)

Quê ở xã Tân Ninh (Triệu Sơn). Năm 1598, đậu tiến sĩ. Năm 1619, được phong chức thượng thư bộ binh, rồi Tham tụng, ông còn là một nhà ngoại giao tài giỏi, một vị quan chính trực, nhiều lần khuyên chúa Trịnh trị tội bọn gian thần

Trịnh Tùng (1546 - 1623)

Người kế tục sự nghiệp của cha là Trịnh Kiểm và hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là Chúa thứ 2 dòng chúa Trịnh, ở ngôi chúa 54 năm và thiết lập nên thể chế nhà nước mới: vua-chúa ở Việt Nam

Nguyễn Mộng Tuân (TK XV)(Đi qua cầu Sân chừng 50 mét rẽ trái sẽ gặp 2 con đường - Nguyễn Mộng Tuân và Nam Cao)

Quê ở xã Ðông Anh (Ðông Sơn). Năm 1400, đậu thái học sinh vŕ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công lớn. Dưới thời vua Lę Nhân Tông, ông được cử đi đánh quân Chięm Thành. Nguyễn Mộng Tuân còn là nhà thơ với các tác phẩm Cúc Pha thi tập, Chí Linh sơn phú.. 

Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê) ( 1704 - ?)

Quê ở Biện Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc (trú quán ở xã Bất Quần, nay là Quảng Thịnh, Quảng Xương). Ông đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn (1736) đời Lê ý Tông. Ðây là người được phong trạng nguyên cuối cùng của nước ta. Ông từng giữ chức Tham Tụng, Thượng thư bộ Hình, Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc tử giám. Khi mất được tặng Hữu thị lang

Nguyễn Mậu Tuyên (1518-1599)

Người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), dòng dõi công thần (cháu Thúc quốc công Nguyễn Nhữ Lãm). Ông học sâu, hiểu rộng, làm quan đến tể tướng, mẫu mực khuôn phép cho trăm quan. Làm quan tới Thiếu phó Quỳnh quận công. Mất truy tặng Thiếu sư

Nguyễn Thu (1799 - 1855)

Còn có tên là Nguyễn Bão, quê xã Nông Trường (Triệu Sơn), đậu cử nhân năm 1821, lŕm án sát và tham dự biên soạn Thực lục tiền biên, sau thăng Thị lang Hộ bộ. Ông đă để lại 17 tác phẩm lịch sử, triết học, thơ văn như Lê Quí ký sự, Việt Thi tục biên,... 

Trịnh Duy Thuân (? - 1542)

 Người sách Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), là cháu công thần An Quốc công Trịnh Khắc Phục. được phong Lỵ Quốc công, trấn giữ Thanh Hoá (1522) khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), ông là người bảo vệ che chở hoàng tử Lê Duy Ninh và cùng với chiêu huân công Nguyễn Kim sắm sửa binh lương, chiêu tập hào kiệt mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê, việc chưa thành, ông mất năm 1542

Cầm Bá Thước (1853 - 1895) (Đối diện đường Lê Thị Hoa ở trên bên này  đường Tống Duy Tân. Cầm Bá Thước là con đường được cho là bẩn nhất Thanh Hóa. Xưa kia bán rau quả. Mỗi khi mình đi qua đây chỉ thấy nào những rơm rạ và hoa quả rơi dọc đường kèm theo những mùi vị "thơm tho" xào trộn lẫn nhau. Có lẽ giờ đã khác)

Quê ở Trịnh Vạn, Thường Xuân. Năm 1895, phong trào Cần Vương của nhân dân Thanh Hoá phát triển mạnh mẽ, ông lãnh đạo nhân dân lập căn cứ Trịnh Vạn tổ chức chống Pháp. Ông được Tôn Thất Thuyết phong cho chức tán tương quân vụ vŕ tiến hŕnh các trận đánh đồn Pů Lẹ, đồn Cửa Đặt... gây cho Pháp nhiều thiệt hại. Bị sa vào tay giặc, ông không khai nửa lời, hy sinh anh dũng

Trịnh Thị Ngọc Trúc(?) (là con đường nhỏ đối diện chợ Nam Thành. bạn có thể đi bộ mua Bia hơi - rất gần nhé)

Là con gái Trịnh Tráng, là chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1643). Người ta cho rằng bà là tác giả bộ từ điển Hán - Nôm cổ nhất của nước ta "Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa"

Phạm Vấn (?- 1435)

Quê ở Nguyên Xá (Ðông Sơn). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1416, có công lao trong các trận Bồ Mộng, Bồ Đằng, giải phóng thành Nghệ An... Ông là một trụ cột của triều đình vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, với ngôi tể tướng. Mất, truy tặng Thái phó, năm 1484 truy phong Trấn quận công

Ðinh Củng Viên (?- 1294)

Quê ở huyện Ðông Sơn, là một nhà ngoại giao tài giỏi dưới đời Trần Thánh Tông (1258 -1278), khi mất được phong tặng chức thái phó

Hoàng Bật Ðạt (1842 - 1887)

Là một trong những người chỉ huy tài giỏi, kiên cường của nghĩa quân Ba Ðình trong phong trào Cần Vương chống Pháp 

Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681)

Quê ở Gia Miêu, xã Hà Long huyện Hà Trung, là một trong những trụ cột của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Ðược giao làm bố chánh Quảng Bình. Ông có tài về chiến lược quân sự và văn thơ. Mất được truy tặng Chięm quận công

Nguyễn Chích (1382 - 1448) Con đường nho nhỏ gần cầu Sâng. Đây là con đường đến chua Tranh)

Quê ở Ðông Ninh, Ðông Sơn. Ông xây dựng và lãnh đạo căn cứ Hoŕng Nghiêu chống giặc Minh, khi Lê Lợi khởi nghĩa, ông đem nghĩa quân Hoàng Nghiêu theo. Ông là một tướng lĩnh tài ba, đã đề xướng kế hoạch đánh vŕo Nghệ An thắng lợi, làm thay đổi tình thế nghĩa quân, mở đầu cho thắng lợi liên tiếp và thắng lợi cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn

Lưu Ðình Chất (1566 - 1627)

Người làng Quì Chử, Hoằng Hoá, là con công thần Lâm quận công Lưu Ðình Thưởng. Năm 42 tuổi ông mới thi đỗ nhị giáp tiến sỹ, můa Hè, Quí Mùi (1623), Trịnh Xuân gây biến ông giúp Thanh Vương (Trịnh Tráng) dẹp loạn. Vì có công và tài giỏi nên vào phủ làm tham tụng, tiến lên thượng thư bộ hộ, thiếu bảo, tước Phúc quận công. Năm Ðinh Mão (1627) ông mất, thọ 62 tuổi, được truy tặng thiếu sư

Lương Ðắc Bằng (1472 - ?) (Chạy sau cơ sở II trường ĐH Hồng Đức. Trước đây có dự án mở đường nhưng tới giờ vẫn chưa thông. Hiện con đường đã được nối qua khu chung cư thu nhập thấp)

Người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá. Lúc bé đã nổi tiếng thần đồng, năm 27 (hoặc 28) tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp tiến sĩ, tên thứ 2 (tức bảng nhãn). Ông làm quan đến thượng thư Bộ lại, được tham dự triều chính, tước Ðôn Trung Bá. Ông còn là nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đào tạo nhiều nhân tài học thức cho xứ Thanh và đất nước

Phạm Bành (1825 - 1887) ( Bên hông sân vận động tỉnh - nơi có quán lá Trúc Linh - một nhà hàng ngon của Thành Phố)

Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc), đỗ cử nhân năm 1864, cůng Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình. Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc), đỗ cử nhân năm 1864, cůng Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình

Hoàng Ðình ái (1527 - 1607)

Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh. Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh (1591) đánh đuổi Mạc Ngọc Liễn, Mạc Kính Cung ở châu An Bác, bắt sống Mạc Kính Cung ở Lục Ngạn (1598), běnh định Lạng Sơn, Hải Dương (1602), ông lŕm quan đến Thái tể. Mất năm 1607, thọ 81 tuổi
Tổng hợp

Tìm hiểu du lịch Hàn Sơn - di tích đền cô bơ

“Con gà gáy năm huyện cùng nghe” - đấy là nơi dòng sông Mã chia làm đôi dòng, trước khi đổ về biển cả. Bởi vậy, dân gian mới đặt tên là Ngã Ba Bông. Nơi đây là vùng đất cổ có bề dày lịch sử lâu đời, được Nhà nước công nhận là một quần thể Di tích thắng cảnh với tên gọi Hàn Sơn, thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. 

Tìm hiểu du lịch Hàn Sơn - di tích đền cô bơ

Hàn Sơn là một xã miền núi thuộc huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa, chạy dọc phía tả sông Mã (Sông Lèn) với diện tích tự nhiên 1500ha, dân số gần 5000 người. Là một mảnh đất có vị trí địa lý rất đặc biệt, nơi con sông Mã tách làm 2 nhánh tạo thành một ngã ba sông giáp với 5 huyện: Hà Trung, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Vĩnh Lộc và Yên Định với nhiều truyền thuyết lịch sử “Đất Thanh kê ngũ huyện”, tức là chỉ một tiếng gà gáy là nhân dân cả 5 huyện đều nghe.

Đền với Hàn (hay còn gọi là Đền Mẫu Đệ tam hoặc là Đệ tam thoải phủ), Đền Ba Bông (Hay còn gọi là Đền Cô Bơ hoặc là Cô Ba thoải phủ) là những di tích lịch sử Văn hóa được xây dựng cách đây trên 500 năm, trải qua biến cố thăng trầm của thời gian, di tích Đền Hàn và Đền Ba Bông đã có những giai đoạn bị phá bỏ hồn tồn, mà theo đó Lễ rước kiệu, Lễ rước bóng Cô Bơ nơi “Quốc mẫu dân cầu” cũng bị mai một lãng quên. Tuy vậy, mảnh đất “Anh linh” vua ban đã được nhân dân và khách thập phương nhiều lần tôn tạo, trùng tu, sửa đổi. Cùng với thời gian, nhân dân thập phương, các thanh đồng bản hội vẫn nô nức viếng thăm, hương khói cầu nguyện phước lành cho cuộc đời bình an, mùa màng tươi tốt, có thể nói đây là nơi “Quốc mẫu dân cầu” có một không hai (Những nơi khác thờ Mẫu thoải, thờ Cô Ba chỉ là phối thờ hoặc chỉ là thờ vọng mà thôi). Cả hai đền này đã được Nhà nước cấp bằng Di tích cấp tỉnh năm 1992.

Theo huyền sử, vào khoảng những năm đầu đại Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), thái úy Lê Thọ Vực sau khi lập được nhiều công trạng được vua phong chức “Bình Trương Quân Quốc Trọng Sự”, rồi đến chức “Sùng Quốc Công”, giao chấn giữ biên ải Ba Bông “Rừng thiêng nước độc”. Trong một trận giao tranh ác liệt kéo dài, không phân thắng bại mà tình thế rất nguy cấp. Đêm hôm ấy, danh tướng đã mơ thấy một người con gái mặc xiêm y trắng trên mây giáng xuống ngã Ba Bông, rẽ nước bước lên kiệu võng mà nói rằng: “Hãy lui quân về Nhị Sơn hạ thủy mà vây hãm, lên núi Thạch Bàn mà cầu Mẫu thoải tất ứng linh”. Theo lời, danh tướng dẫn quân xuôi về Chí Thủy (Thác Hàn Sơn bây giờ) dâng lễ cầu Mẫu rồi bố trí quân binh mai phục. Ứng báo của Mẫu cho kế phá giặc là lấp đá chặn dòng, lấy thủy triều dâng, làm nghi binh nhử giặc vượt qua bãi đá ngầm, khi nước thủy triều xuống thì tổng lực phản công, thuyền giặc rút chạy bị vấp vào bãi đá ngầm, lật nhào chìm đắm rất nhiều, quân mai phục đổ ra đánh úp, quân giặc chết nhiều vô kể và thất bại thảm hại, không còn dám quấy nhiễu nữa. (Dấu tích bãi đá ở Thác Hàn vẫn còn cho đến ngày nay).

Thác Hàn Sơn lừng lẫy chiến công, nức tiếng muôn phương, oanh liệt một thời. Người con gái trong kiệu võng về báo mộng cho tướng quân Lê Thọ Vực đêm hôm ấy chính là con gái Ngọc Hồng thượng đế (Công chúa Mai Hoa) mà nay gọi là Cô Ba hay Cô Bơ thoải phủ đền Ba Bông. Còn người báo mộng hiến kế để tướng quân Lê Thọ Vực phá giặc là “Đệ Tam Thủy Tiên Thánh Mẫu Bạch Ngọc Hồ Trung Xích Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ” hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam, Mẫu Thoải, Mẫu Hàn Sơn đều là một. Để đáp lại ân đức của thánh thần, tướng quân Lê Thọ Vực tâu vua, vua Lê cho lập đền thờ Cô Ba ở bờ bãi bồi Ba Bông hiện nay. Đền thờ Đệ Tam Thánh Mẫu ở non cao Thạch Bàn thác Hàn Chí Thủy (về sau mới di dời xuống bên sông để nhân dân thuận lợi việc thăm viếng). Nhớ ơn công đức của tướng quân Lê Thọ Vực, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay phía dưới trước đền Mẫu, được tách rời bởi sân Đại Bái (Từ đó đến nay vẫn giữ nguyên sự sắp xếp đó).

Lễ hội Hàn Sơn được mở vào tháng 6 (âm lịch) hàng năm, ngày 12 tháng 6 là ngày chính hội, nhân dân thường tổ chức lễ hội rước kiệu, mà cách thức là rước bóng Cô Bơ ở Đền Ba Bông về hầu Thánh mẫu Đệ Tam Đền Hàn, khi thực hiện xong nghi lễ lại rước Cô trở về, lễ rước được diễn ra theo đúng nghi thức truyền thống. Lễ hội diễn ra rất sôi nổi, náo nhiệt cả một vùng xứ Thanh, trên bộ dưới sông xe thuyền tấp nập, cờ hoa rợp trời, kẻ Nam người Bắc, dưới ngược trên xuôi, muôn nẻo đổ về đông vui vô kể.

Trong những năm qua được sự quan tâm của các Cấp ủy Đảng, chính quyền và sự đồng thuận của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã, nhân dân thập phương xa gần đã quan tâm đóng góp công sức, tiền của để đầu tư xây dựng và tôn tạo Đền phủ, chùa chiền, các Di tích lích sử văn hóa tâm linh ngày càng khang trang, bề thế. Thể theo nguyện vọng của nhân dân và du khách gần xa, năm 2012 xã Hà Sơn đã khởi công san lấp mặt bằng, xây dựng và trùng tu lại Đền Mẫu Hàn Sơn. Đây là một việc làm có ý nghĩa đối với đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của đông đảo nhân dân xã Hà Sơn nói riêng và du khách thập phương nói chung và nơi “Quốc Mẫu dân cầu”, sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn của mọi tầng lớp nhân dân trong hệ thống danh - thắng hiện có trên địa bàn huyện Hà Trung

Doanh nghiệp Viettel Thanh Hóa tặng bò cho hộ nghèo

Chương trình "Chung tay vì cộng đồng" đã bàn giao 20 con bò lai sind cho 20 hộ gia đình thuộc diện nghèo tại huyện Thường Xuân, 1 trong 7 huyện nghèo nằm trong chính sách 30a của của nhà nước tại Thanh Hóa.
 
Doanh nghiệp Viettel Thanh Hóa tặng bò cho hộ nghèo
Doanh nghiệp Viettel Thanh Hóa tặng bò cho hộ nghèo
Nằm trong chương trình "Chung tay vì cộng đồng" do UBND tỉnh Thanh Hóa và Tổng Công ty Viễn thông Viettel phát động, nguồn kinh phí hỗ trợ cho các hộ nghèo được trích từ lợi nhuận phát triển dịch vụ viễn thông của Viettel trên địa bàn toàn tỉnh. Cụ thể, với vai trò đồng hành là cầu nối giữa người hảo tâm và các gia đình khó khăn có điều kiện chăn nuôi bò sinh sản, Viettel bàn giao cho Ban điều hành chương trình "Chung tay vì cộng đồng" số kinh phí tương đương 1 con bò ngay khi có đủ các nhà hảo tâm đăng ký tham gia tặng bò bằng việc sử dụng dịch vụ viễn thông của Viettel.

Trong 2 tuần triển khai, chương trình "Chung tay vì cộng đồng" đã nhận được hàng nghìn tấm lòng hảo tâm ủng hộ chương trình. 20 con bò đầu tiên đã được bàn giao cho 20 hộ nghèo tại 2 xã Xuân Cẩm và Luận Khê thuộc huyện Thường Xuân, một trong những huyện nghèo thuộc diện 30a của Chính phủ.
Phát biểu tại buổi lễ trao bò cho các hộ nghèo, bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Giám đốc Sở Lao động, Thương Binh và Xã hội bày tỏ lòng cảm ơn sự quan tâm của các nhà hảo tâm, sự tham gia của chính quyền địa phương đã tham gia cùng ủng hộ góp sức cho chương trình được thành công, góp phần cùng địa phương chung tay vươn lên thoát nghèo

Bánh lá răng bừa - Đặc sản xứ Thanh

Nhắc đến Thanh Hoá, đến hương vị quê Thanh không thể không kể đến đặc sản bánh lá răng bừa. Vào những dịp lễ tết, hầu như gia đình nào ở làng quê xứ Thanh cũng làm bánh lá răng bừa để cúng tổ tiên và cho con cháu xa gần thưởng thức. Trên mâm cỗ ngày tết cổ truyền hay những ngày lễ trong năm, tuy có rất nhiều thức ăn ngon nhưng luôn có thêm đĩa bánh lá răng bừa

Bánh lá răng bừa - Đặc sản xứ Thanh
(chiếc bánh nhỏ, thon như răng của chiếc bừa) bốc khói nghi ngút, thơm lừng mùi hành mỡ, lá dong thật hấp dẫn.

Để có những đĩa bánh lá răng bừa thơm ngon, nóng hổi kịp cúng tổ tiên vào sáng sớm hôm sau, các bà, các mẹ, các chị quê Thanh phải thức khuya để làm từ đêm hôm trước. Để làm bánh lá răng bừa, gạo tẻ phải ngâm trong nước lạnh khoảng 2 – 3 giờ rồi đem xay thành bột, thường là xay cùng với nước, bằng chiếc xay bột quay tay thủ công cho bột dẻo. Còn nếu xay bột khô bằng máy thì phải pha nước cho vừa đủ. Sau đó, bột làm bánh được đặt lên bếp nấu, tay khuấy đôi đũa trong nồi liên tục sao cho bột không bị vón cục, không quá chín. Đến khi nồi bột gạo đặc sền sệt thì bắc ra ngoài để nguội bớt và bắt đầu gói bánh.

Lá để gói loại bánh này thường là lá dong, hoặc lá chuối tươi cắt ở vườn nhà đã được hơ qua lửa nhằm tăng độ dẻo cho lá và khỏi rách.

Nhân bánh lá răng bừa gồm hành khô, thịt ba chỉ băm nhỏ, mộc nhĩ trộn với hạt tiêu, muối vừa đủ. Nếu làm bánh lá răng bừa để lễ chay hoặc đi lễ chùa thì nhân bánh được làm bằng lạc hoặc đậu.

Sau khi gói xong, những chiếc bánh lá răng bừa bằng ngón tay trỏ hoặc như những chiếc răng bừa xinh xắn được xếp ngay ngắn vào nồi, sau đó đổ nước đun sôi vào nồi và luộc chín.

Mỗi mâm cỗ quê Thanh vào những dịp lễ tết không thể thiếu hai đĩa bánh lá răng bừa nghi ngút khói, thơm ngon. Ngồi giữa quê nhà bình yên, được thưởng thức món bánh lá răng bừa thơm mùi gạo, ngầy ngậy mùi nhân bánh thì thật là thú vị.

Thanh Hóa mảnh đất vua chúa!

Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”. Vùng Ái Châu, tức Thanh Hóa được xem là nơi phát tích của hầu hết các dòng họ vua, chúa Việt xưa. 
Thanh Hóa mảnh đất vua chúa!

Nếu tính từ khi nước Nam ta có Nhà nước đầu tiên cho đến khi kết thúc triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn, thì điểm lại hầu hết các dòng họ vua, chúa đa phần đều phát tích từ đất Thanh Hóa (Ái Châu) mà ra. Đây được xem là vùng đất có nhiều dòng vua, chúa nhất nước.

Hình thể và con người
Đất Thanh Hóa, trải qua các đời có nhiều tên gọi khác nhau. Xưa thuộc bộ Cửu Chân, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Triệu là quận Cửu Chân… Tên gọi Ái Châu quen thuộc được biết đến vào thời Lương Vũ Đế nhà Lương. Đến thời nhà Lý được đổi làm phủ Thanh Hóa, tên gọi Thanh Hóa từ đó mà được biết đến.

Về hình thể, sách Đại Nam nhất thống chí, quyển VI, phần Thanh Hóa tỉnh chí cho biết: “Mặt đông trông ra biển lớn, mặt tây khống chế rừng dài. Bảo Sơn Châu (hoặc Sơn Thù) chăm hiểm ở phía Nam, (tục gọi là Eo Ống), giáp huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, núi Tam Điệp giăng ngang phía Bắc. Ở trong thì sông Mã, sông Lương, sông Ngọc Giáp hợp nhau; ở ngoài thì núi Chiếc Đũa, núi Biện Sơn che chở. Thực là một trọng trấn có hình thế tốt”. Lại xét, Ái Châu là vùng đất mà như ngày nay nói là “khu IV đẩy ra, khu III đẩy vào”, tức là nơi giao nhau giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có thể xem như là yết hầu của nước Nam nơi cõi Bắc vậy. Nhờ có địa thế tự nhiên với biển, núi, sông che chở, nên vùng đất này có được cái thế hiểm yếu hiếm có trong quân sự. Chẳng thế mà sau này quân Tây Sơn lại chọn lui về Tam Điệp (còn gọi là đèo Ba Dội giao nhau giữa Ninh Bình, Thanh Hóa) và Biện Sơn để ngăn bước tiến quân Thanh.

Hình thế đắc địa như một vương quốc riêng như vậy, cũng từ đó mà hình thành nên tính cách, phong tục của người dân nơi đây được An Nam chí lược của Lê Tắc trong phần Phong tục khen là: “Người sinh ra ở Giao Châu và Ái Châu thì rộng rãi, có mưu trí”. Còn trong Đại Nam nhất thống chí thì bình rằng: “Sĩ tử thích văn học, giữ khí tiết, nông dân chăm cày cấy, thợ thì có người đẽo đá là sở trường hơn cả, ít người buôn bán”. Chính từ địa lợi, nhân hòa ấy, góp phần cho vùng đất Ái châu trở thành nơi thiên thời cho việc xưng vương, dựng nước.

Cũng vì là đất đế vương, cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà Trần đã từng phải cho người đục núi, lấp sông ở nơi đây để trấn yểm các huyệt mạch đế vương. Điều này được chứng thực bởi Việt sử địa dư của Phan Đình Phùng, nguyên văn như sau: “Trần Thái Tông niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 17 (1248), sai người giỏi về phong thủy đi trấn áp vượng khí trong khắp núi sông, như núi Chiêu Bạc, sông Bà, sông Lễ ở Thanh Hóa, đều đào và đục đi. Lấp các khe kênh, mở đường ngang lối dọc không kể xiết”. Núi Chiêu Bạc chính là núi Chiếu Sơn thuộc huyện Nga Sơn. Sông Bà thuộc địa giới huyện Đông Sơn, còn sông Lễ chính là sông Mã. Nhưng việc làm ấy cũng chỉ như muối bỏ biển, bởi ngay sau nhà Trần thì nhà Hồ đã phát ra từ xứ Thanh rồi. Thế nên lời của sử thần Ngô Sĩ Liên quả chẳng sai chút nào: “Từ khi có trời đất này, thì đã có núi sông này, mà khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời, đều có số cả. Khí trời từ Bắc chuyển xuống Nam, hết Nam rồi lại quay về Bắc. Thánh nhân trăm năm mới sinh, đủ số lại trở lại từ đầu. Thời vận có lúc chậm lúc chóng, có khi thưa khi mau mà không đều, đại lược là thế, có can gì đến núi sông? Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà trấn áp, thì khí trời chuyển vận, thánh nhân ra đời có pháp thuật gì trấn áp được không? Ví như Tần Thủy Hoàng biết là phương Đông Nam có vượng khí thiên tử, đã mấy lần xuống phương ấy để trấn áp, mà rút cuộc Hán Cao vẫn nổi dậy, có trấn áp được đâu”.

Liên tiếp các triều đại vua, chúa phát tích từ đất Ái Châu mà ra, nên trong dân gian đời xưa có câu ngạn ngữ truyền đời: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ”, ý nói Thanh Hóa là nơi phát tích của các triều đại đế vương. Còn xứ Nghệ An là nơi có các tôi thần giỏi giang giúp vua trị nước. Theo thống kê của tác giả, kể từ khi nước ta có vua thời Văn Lang cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn vào năm 1945 với vua Bảo Đại, thì Thanh Hóa chính là nơi khởi nguồn của nhiều dòng vua, chúa nhất nước. Vậy nên, nói Thanh Hóa là vùng đất địa linh, nhân kiệt từ ngàn xưa đến nay quả chẳng ngoa chút nào.

Đất của vua
Năm Mậu Thìn (248), Lệ Hải bà vương Triệu Thị Trinh đánh quân Ngô tại núi Nưa, Triệu Sơn, Thanh Hóa làm quân giặc khiếp đảm tôn phục với câu cửa miệng “Hoành qua đương hổ dị. Đối diện bà Vương nan” (Múa giáo chống hổ dễ. Đối mặt vua bà khó). Dù chưa lập triều nghi, nhưng ngay quân Ngô đã tôn xưng người con gái của chiến tuyến bên kia làm vua rồi.

Tháng 12 năm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ quê làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đánh đuổi quan đô hộ Lý Khắc Chính, Lý Tiến của nhà Đường, chiếm thành Đại La, tự xưng làm Tiết Độ sứ, nhưng thực ra đã là một “vua không ngai” khi tiếp nối được nền độc lập, tự chủ do dòng họ Khúc dựng nên từ năm Ất Sửu (905).

Tháng 7 năm Canh Thìn (980), Thái hậu Dương Vân Nga khoác áo mời Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi để thống nhất lòng dân chống quân xâm lược Tống, từ đó mở ra nhà Tiền Lê (980 - 1009). Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành vốn quê xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Nhà Tiền Lê trải ba đời gồm Lê Đại Hành (980 - 1005), Lê Trung Tông (1005), Lê Ngọa Triều (1005 - 1009).

520 năm sau, cũng năm Canh Thìn (1400), ngoại thích Hồ Quý Ly thoán đoạt ngôi vị nhà Trần lập nhà Hồ với tên nước là Đại Ngu, kinh đô ở thành Tây Giai, tức Tây Đô của Thanh Hóa. Tổ tiên ông vốn ở Chiết Giang, Trung Quốc, sau di cư sang sống ở Diễn Châu, Nghệ An rồi chuyển ra hương Đại Lại, Thanh Hóa lập nghiệp. Nhà Hồ truyền qua hai đời vua trong 7 năm (1400 - 1407).

Thời gian 1428 – 1789 là thời kỳ tồn tại của nhà Hậu Lê gồm giai đoạn Lê sơ (1428 - 1527) và Lê Trung hưng (1533 - 1789). Người sáng nghiệp nhà Hậu Lê là Lê Thái Tổ (Lê Lợi) sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh (1416 - 1428). Ông quê ở xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giai đoạn Lê sơ trải qua 10 vị vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng, được xem là thời thịnh trị của chế độ phong kiến Đại Việt với đỉnh cao là đời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460 - 1497). Giai đoạn Lê Trung hưng đánh dấu sự phục hồi của nhà Lê sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi với vị vua đầu tiên Lê Trang Tông (1533 - 1548), và kết thúc với vua thứ 16 Lê Chiêu Thống (1786 - 1789).

Triều đại cuối cùng của Việt Nam là nhà Nguyễn (1802 - 1945) do Nguyễn Ánh Gia Long hưng khởi, tổ tiên của ông là chúa Nguyễn Hoàng vốn bản quán ở Gia Miêu ngoại trang thuộc huyện Tống Sơn (xã Hà Long, huyện Hà Trung nay), đất Thanh Hóa. Nhà Nguyễn truyền được 13 đời vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802 - 1820) cho đến vua Bảo Đại (1926 - 1945).

“Nhà” của chúa
Trong lịch sử nước Nam ta, ghi nhận chính thức có hai dòng chúa là chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Cả hai dòng chúa đều phát tích từ xứ Thanh.

Chúa Trịnh thời vua Lê – chúa Trịnh thế kỷ XVI  - XVIII do Trịnh Kiểm lập nên. Ông vốn xuất thân nghèo nàn từ làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tuy tiếng là phò giúp nhà Lê, nhưng quyền lực thực tế của các chúa Trịnh lại át cả vua Lê, có cung vua thì có phủ chúa. Vua Lê có Lục Bộ thì chúa Trịnh có Lục phiên. Vua Lê dạo Trung hưng chỉ có hư vị mà thôi. Thế nên dân gian mới có câu: “Phi đế phi bá, quyền nghiêng thiên hạ” để chỉ thế lực của chúa Trịnh. Dòng dõi chúa Trịnh bắt đầu từ chúa Trịnh Kiểm (1545 - 1570) cho đến thời chúa Trịnh Bồng (1786 - 1787) bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ dẹp thì dứt hẳn.

Chín đời chúa Nguyễn được lập nên sau thời chúa Trịnh. Vào năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng nghe theo lời Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên “Hoành Sơn nhất đại, khả dĩ dung thân” đã vào trấn trị đất Thuận Hóa. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính là con trai thứ của An Thành hầu Nguyễn Kim người Gia Miêu ngoại trang được nói tới ở trên. Dòng dõi chúa Nguyễn trải qua 9 đời từ Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) cho tới Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777), có công lập nên và khai phá đất Đàng Trong, mở rộng dần về phía Nam đất nước cho tới tận Mũi Đất, Cà Mau.

Không chỉ là nơi phát vua, phát chúa, Ái Châu – Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò trung tâm của đất nước khi từng giữ vị trí là đất Thần Kinh. Cụ thể là Tây Đô thời Hồ với thành An Tôn, hay Tây Giai (1400 - 1407).

Khi vua Lê Trang Tông phục quốc bên Ai Lao năm Quý Tỵ (1533), đến năm Quý Mão (1543) cũng chọn xứ Thanh để đóng làm nơi phát binh Bắc tiến đánh Thăng Long diệt Mạc. Năm Bính Ngọ (1546) thì lập điện để ở tại sách Vạn Lại, nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa tạo nên Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc ở Thăng Long.
Ngày nay, Thanh Hóa là một trong 63 tỉnh, thành phố của đất nước, được xếp theo vị trí địa lý là tỉnh mở đầu vùng Bắc Trung Bộ.