Thịt Gà Om Mẻ (Phương pháp: thọ Xuân-Thanh Hóa)

Với Thanh hóa thì gà thuộc món ăn cao cấp nên đã sử dụng tới hầu hết phương pháp làm chín. Thông dụng nhất là món luộc rồi mới đến các món nướng, rang, quay, chiên, kho, hầm, hấp, nấu chưng, nhồi hình thú, rút xương...

Thịt Gà Om Mẻ (Phương pháp: thọ Xuân-Thanh Hóa) 

Riêng cách hấp cũng có tới mấy cách: hấp cải xanh, hấp đông, hấp muối, hấp nấm, hấp hành và hầm cũng thế: nào hầm điển thất, hầm sâm u linh, hầm gừng; nhất là nấu thì có tới năm bảy thứ nấu: nấu đông, nấu hạt Sen, nấu đậu…
Thống kê có thể chưa đầy đủ nhưng cũng tới hàng trăm món gà khác nhau, trong khi món gà trên thế giới không thể phong phú như vậy.
Thịt Gà Om Mẻ (Phương pháp: thọ Xuân-Thanh Hóa)

Tuy nhiên có món gà om mẻ quả là món ăn độc đáo, đặc biệt là ở tỉnh Thanh Hóa. Và cũng không phải toàn tỉnh Thanh mà chỉ thấy xuất hiện nhiều nhất là ở huyện Thọ Xuân.
Có thể nói gà om mẻ là món ăn rất địa phương, hầu như khắp ba miền không thấy nói đến món này mấy khi. Các nhà hàng ăn cao cấp lại càng hiếm có thậm chí không hề thấy.
Vậy thịt gà om mẻ có ngon thơm như các cách nấu khác không mà nghe khác tai vậy? Phải nói rằng Thọ Xuân mới là quê hương của gà om mẻ mà nó cũng chỉ khoái khẩu riêng với người Thọ Xuân, có thể dược một vài vùng khác ở Thanh Hóa đã được nếm thử và bắt chước, dập khuôn nhái lại.
Thực ra thì món này làm không khó. Chỉ cần có con gà trên một kg là đủ nguyên liệu chính. Còn thứ phụ gia chỉ có ít mẻ, rượu trắng một ly nhỏ, bột cà ri, tương, riềng, gừng một hai củ và mắm, muối, tiêu, mì chính như thưởng dùng làm các món khác. Đủ mọi thứ rồi thì mổ gà chặt bỏ chân, không dùng tim, gan, mề, ruột đưa vào món này. Gà xát muối rửa sạch cho hết mùi hôi để ráo nước sau chặt nhỏ thành từng miếng vuông rồi cho mẻ, gừng, riềng thái mỏng, rượu, tương, bột cà ri, mắm, muối, tiêu ướp khoảng 20 phút, rồi đổ vào nồi, đổ nước, bắc lên bếp đun đều lửa và đun thật lâu thịt mềm nhừ ăn càng ngon. Khi bắc ra mới cho mì chính, ít hạt tiêu bột, lá chanh thái chỉ để tăng thêm mùi vị.

Thịt Gà Om Mẻ (Phương pháp: thọ Xuân-Thanh Hóa)

Gà om mẻ có màu vàng óng ánh vị ngọt thơm, dậy mùi mẻ, mùi tương, mùi gừng, riêng thơm cay, hắc mùi lá chanh non lẫn hạt tiêu tạo nên một hương vị ngào ngạt. Ta có cảm giác như những món nấu có gia thêm mẻ như lươn om, như cá trê kho gừng và thoang thoảng như mùi xốt vang vì có lẫn rượu và bột cà ri, nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng nhầm lẫn sang các món ngon khác mà thực chất vẫn chỉ là món gà om mẻ rất dân dã, rất độc đáo chưa thấy được làm trong các nhà hàng sang trọng. Nếu khá nhiều món cung đình đều có nguồn gốc từ món dân dã được nâng cao thành món sang trọng sao thì món thịt gà om mẻ Thọ Xuân này lại không được “chuyển thể” thành món ngon cao cấp vì tính độc đáo một vùng chỉ riêng một nơi có gà om mẻ Thanh Hóa. Có lẽ nên đổi tên món như vậy cho có thêm ấn tượng về nền văn hóa ẩm thực nơi địa đầu của khúc ruột miền Trung.

Ếch Om Dọc Khoai Nước

Tháng bảy tháng tám với những trận mưa trút nước xuổng cánh đồng lúa đang ngậm sữa, các chú ếch nhảy ra khỏi hang ngồi chồm chỗm bên bờ cỏ ướt mình tròn trùng trục, béo núc ních, cặp đùi nần nẫn những thịt nạc có thể khiến bạn không thể ngồi yên... Một thời ký ức


Ếch Om Dọc Khoai Nước
Bước đầu làm ếch.
Tiếng ếch kêu ồm ộp lan toả tới sát ao chuôm trong những thôn làng nho nhỏ miền Trung ăm ắp nước mưa. Trời có lúc oi nồng vì hơi nước bốc lên đuổi theo những cơn gió Lào nóng hầm hập. Những trận mưa rào lại nối tiếp nhau ròng rã trút nước, sấm vang chớp vạch ngang trời. Tiếng ếch trong hang càng da diết hình như chưa tìm thấy “bạn tình” nên cứ từng đợt từng đợt, tiếng kêu lại dóng dả như van như thương làm cho ai đó mộng du cũng phải chạnh lòng.

Riêng tôi nhớ lại những ngày tháng 8 ở quê, một mình cầm cần đi câu ếch bằng mỗi hoa mướp. Mặt ao mênh mông phủ đầy bèo cái. Mùa mưa bây giờ đã hết, ếch cũng thôi không gào xé như tiết tháng ba nên chỉ còn một cách là đi câu mới có ếch ăn vì thịt ếch tháng này ngon hơn mọi lúc, chẳng thế mà quê tôi đã "tôn vinh" ếch lên ngôi “gà đồng” cũng đúng. “Mướp non nấu với gà đống, mời ăn một bữa xem chồng về ai?” Quả thật, ếch nấu với mướp non chỉ nghe đã thấy ngọt, thấy thơm rồi. Ếch xào với mướp hương Quỳnh Lôi thì ôi thôi đĩa xào có vụng tay chế biến cũng cứ ngon không món nào sánh nổi. 
Ếch làm đủ thứ món, hết xào chua ngọt đến tẩm bột rán, rồi bọc mỡ chài nướng, ếch hấp gan gà, ếch nấu cà ri toàn là những món đặc sản cầu kỳ trong nhà hàng khách sạn thuộc bộ ba sinh vật quý hiếm: rùa rùa, thịt ếch, ba ba. 
Ngoài những món cao sang đắt tiền thì ếch om dọc khoai nước là món độc chiêu tự nấu lấy ở nhà mà chỉ có sẵn một vùng miền Trung nào đó mới có. Nó là một món ăn rất dân dã đồng quê, ngoài thành phố chắc ít ai biết đến vì cách nấu cách ăn chẳng giống ai nhưng ngon ngọt thì có lẽ không đâu bằng. Làm thịt ếch bằng cách lấy mũi dao nhọn rạch dọc giữa sống lưng, lột da, mổ bụng vứt bỏ ruột, cắt loại các ngón chân ngón tay rồi chặt thành những miếng nhỏ, lấy cả da tuy dai nhưng lại béo nhất. Ếch bóp mẻ, ướp gia vị để một lúc cho ngấm. 
Ếch bóp mẻ, ướp gia vị để một lúc cho ngấm.
Ếch bóp mẻ, ướp gia vị để một lúc cho ngấm.

Lúc sống, ếch gắn bó với cây tàu khoai; khi chết lại kết hợp cũng dọc tàu khoai để làm thành món ngon. Đây là giống khoai nước chỉ ăn tàu lá mà không ăn củ. Cần phân biệt với loại khoai ngứa cây lá gần như nhau dễ lầm. Giống khoai nước có đốm nâu ở giữa thì ngứa không ăn được. Đặc biệt là giống không ngứa nếu trồng lẫn với giống ngứa cũng bị lây ngứa như nhau nên có câu ví “họ ếch thích sống trong hang ẩm ướt bên ngoài có đám khoai nước xoè tán che mát và cũng là nơi tụ hội nhiều giống côn trùng như giun đất, cào cào, châu chấu, mồi ăn tuyệt ngon của loài ếch nhà khoai không ngứa cũng tê tê”. Để phòng ngứa người ta phải bóp muối dọc tàu khoai trước khi nấu. Chỉ có dọc cây mùng là an toàn nhưng lại không ngon bằng dọc khoai nước vì dọc mùng rỗng xốp nhiều không chắc như dọc khoai.

Thịt ếch nấu chín mới bỏ dọc tàu khoai đã tước hết vỏ và cắt ngắn chừng vài ba đốt ngón tay vào nồi tiếp tục đun sôi cho tới khi dọc khoai chín tái, rắc thêm lá lốt, xương sống thái vụn bắc ra ăn ngay lúc nóng, ăn vã hoặc ăn với cơm bún.
Thịt ếch đồng ăn chắc, xương giòn tan nhai kêu răng rắc cho cảm giác thú vị. Theo kinh nghiệm dân gian thì thịt ếch bổ làm mạnh gân cốt.Người ta còn nấu ếch với cà xanh thái mỏng ngâm qua nước cho tan chất chát, còn thịt ếch trộn mẻ cùng gia vị nấu chung một nồi. Cà chóng nhừ nên cũng có thể bỏ vào sau cho đỡ nát. 
Bày lên đĩa và trang trì cho đẹp mắt: ếch om dọc khoai nước
Bày lên đĩa và trang trì cho đẹp mắt .

Thịt ếch ngon, ở nông thôn rất quý thịt ếch nên gọi con ếch là gà đồng còn giống gà đồng chính hiệu thì lại mang tên là “gà rịch” hay “gà lịch" một cách gọi dân gian miền Trung nhằm nâng cao thịt ếch, hạ thấp thịt gà đành rằng cả hai đều ngon thơm thịt trắng như nhau và giá cả có khi ngang bằng thậm chí có khi thịt ếch đắt hơn thịt gà nếu như con ếch kiếm được trong lúc trái mùa. 

Ngọt ngào vị quê trong bánh lót xứ Thanh

Nếu các bạn được lên thăm vùng núi xứ Thanh những ngày mưa dầm mà được thưởng thức món bánh lót dân dã thì xem như đã được tận hưởng gần hết mùi vị đặc trưng của nơi đây. Bánh thường được các mẹ làm vào những dịp nông nhàn để thay đổi khẩu vị.


Món bánh lót được chế biến đơn giản nhưng vị ngọt quê hương vẫn rất đậm đà, chỉ cần ngửi mùi thơm trong từng miếng bánh thì ai cũng cảm nhận được vị riêng ấy.
Ngọt ngào vị quê trong bánh lót xứ Thanh


Làm bánh lót cần phải chọn lựa loại gạo nếp nương hạt tròn, bóng và quan trọng là phải dẻo thơm. Đem xay bột khô rồi pha với một lượng nước đun sôi để nguội vừa phải, nhào cho thật đều đến khi bột không còn dính vào thành bát mới được. Càng nhào bột nhiều lần thì bột sẽ mịn hơn, nhuyễn hơn. Lúc nặn bánh cho thêm ít bột gạo tẻ để đỡ dính tay và tạo độ giòn xốp cho vỏ khi rán.

Nhân bột được chọn từ những hạt đỗ xanh ngon. Đỗ xanh ngâm nước vài tiếng cho nở, sau đó khéo léo sàng lọc để tách hết vỏ. Để cho nhân bánh ngon hơn thì người làm bánh đem đỗ xanh đi hấp chín bông, giã mịn, vo tròn thành từng viên nhỏ.

Đem bột vừa nhào nặn thành vỏ bánh, bọc lấy nhân đỗ rồi thả vào chảo mỡ đang sôi lăn tăn. Điều đặc biệt tạo nên thương hiệu riêng cho bánh lót chính là thứ mỡ trong veo và thơm tự nhiên được chiết xuất từ quả sở. Hơn nữa bánh lót của người Mường nơi đây không sử dụng bột nở nên bột bánh dẻo hơn.

Phải đảo đều tay cho đến khi bánh chuyển sang màu vàng rộm, vỏ bánh căng, nở đều mà không dính vào nhau thì vớt ra thấm dầu giúp lúc ăn không ngán. Đợi bánh nguội đem trùng với mật mía đã được nấu chín. Người lăn bánh cần tinh tế sao cho một lớp mật mỏng phủ đều lên vỏ bánh mà mật vẫn giữ được màu vàng nhẹ, bóng bẩy tự nhiên.

Những chiếc bánh thơm lừng, ngọt ngào được bày trên đĩa khiến mọi người quên cả thời tiết sụt sùi mà tập trung thưởng thức một món ngon thú vị chỉ có ở miền quê nông thôn. Cảm giác vị ngọt của mật thấm vào đầu lưỡi sau đó tan chảy trong miệng kết hợp với mùi dẻo thơm của bột nếp nương và đậu xanh nhắc mọi người nhớ về quê hương hơn lúc nào hết.

Lươn Ùi Thanh Hóa

Lươn là thực phẩm khá phổ biến trong các món ăn Việt Nam và đó điển hình là các vùng của miền trung điển hình nhất đó là Thanh Hóa. Từ lươn bạn chế biến được đủ món ngon: chả lươn, cháo lươn, dồi lươn, dùng lươn, bún lươn xào, miến lươn, canh chua lươn, lươn bọc mỡ chài hấp, nướng, lươn bóp thấu, lươn chiên giòn, lươn bung củ chuối xoàng xoàng cũng hàng chục món để ăn nhậu, ăn vui hay đưa vào bữa chính. Ở Nam Bộ còn có lươn um lá nhào, lươn um nước dừa, lươn kho sả ớt, lươn nấu chua nhưng với miền Trung lươn được chế biến thành một món đặc biệt nhất mà chẳng có vùng làm được đó là món lươn ùi.

Đây là lươn bắt đầu được đánh về và bắt đầu chế biến .


Món lươn ùi có nước sánh vàng, thơm mùi gia vị, ngọt đậm làm bằng lươn xào với thịt vịt, thịt lợn nạc, mộc nhĩ, nấm hương, miến và củ đậu. Để chế biến món lươn ùi này bạn phải lựa chọn những con lươn khá to cho muối và vôi vào để khoảng 15 phút cho lươn hết nhớt, dùng khăn khô hoặc rơm trấu tuốt sạch từng con sau rửa lại thật kỹ.
Món lươn nấu om rất phổ biến của người xứ Thanh .

Lươn để nguyên con cho vào xoong nước luộc chín tới với một củ gừng đập dập rồi vớt ra để nguội gỡ lấy thịt xé tơi nhỏ vừa ướp với nước mắm hạt tiêu. Thịt vịt thịt nạc cắt miếng to rán vàng thái chỉ. Củ đậu nấm hương lá chanh thái sợi. Vừng rang vàng xát vỏ, miến rán phồng, hành củ thái mỏng.
Xương lợn xương vịt cho vào soong ninh nhỏ lửa, nướng một củ gừng đập dập thả lẫn vào đun sôi lọc trong cho thịt lươn thịt vịt thịt nạc nấm hương mộc nhĩ xào săn đổ vào nước dùng cho thêm chút bột đao cho sánh mượt nêm vừa mì chính đun nhỏ lửa, đợi sôi múc ra ăn nóng.
Đây là món lươn kho với củ chuối .


Khi ăn cho hạt tiêu vào bát múc cái nước đổ lên trên rắc vừng giã nhỏ, lá chanh, miến đã rán phồng và một lần hạt tiêu nữa, cứ thế húp no không cần ăn kèm cơm bún nếu cần bỏ thêm lát bánh mì như kiểu ăn súp món Âu.
Món lươn thập cẩm .

Món lươn ùi có màu nâu, trắng, vàng xen kẽ và phân phối đều nhau và lơ lửng trong dung dịch sánh mượt nổi mùi thơm của hành, tiêu, lá chanh, vị ngọt thơm không nhận thấy mùi tanh. Món này thường được ăn vào đầu bữa trong các cuộc họp mặt gia đình hay liên hoan với bạn bè tại nhà với điều kiện gia chủ phải có đầu bếp khéo tay biết chọn lươn là món ăn béo bổ có nhiều chất dinh dưỡng.

Bánh mật xứ Thanh: vị quê Vĩnh Lộc

Bánh mật xứ thanh không phổ biến như các loại bánh truyền thống khác như: bánh trưng, bánh lá…, bánh mật được người Vĩnh Lộc - Thanh hóa làm trong những ngày lễ, tết lớn hoặc làm quà cho người ở xa về. Bánh có vị ngọt mát của mật, dẻo của gạo nếp, vị thơm của đỗ và đậm đà tình quê.

Bánh mật xứ Thanh: vị quê Vĩnh Lộc
Nhiều người dân xứ Thanh và đặc biệt là đến tôi đây có lẽ cũng chưa thể hiểu và nếm đủ các đặc sản xứ thanh nói chung và món Bánh mật nói riêng này. Thú thật là: "đến khi chạm mắt chạm tay, khi chạm đầu lưỡi thấy ... hay hay tôi mới cười" Quả thật: Bánh mật là một món bánh hợp khoái khẩu của tôi nhất khi đến vùng quê Vĩnh Lộc. Vĩnh Lộc hiện nay đang ngày một đổi mới. Tôi còn nhớ đầu huyện có ngôi chùa Giáng đẹp canh ao sen. Bên hông là một con đường và khúc cảnh ấy thật nhiều Bò (phải hàng trăm con Bò) Giờ đây mọi thứ đã đổi khác.. Tôi ước ao lắm một lần về lại nơi xưa. Ngắm và lang thang một vài nơi ngõ vắng...

Cách làm món bánh mật xứ Thanh
Muốn làm bánh mật ngon trước tiên phải chọn được loại gạo nếp thơm, (bột gạo quyết định đến 50% hương vị của bánh). Gạo nếp được xay khô cho thật mịn (bột càng mịn thì bánh càng dẻo), sau đó đổ mật vào trộn đều với bột, phải chú ý bàn tay nhào bột thật khéo, để bột không quá loãng hoặc quá khô, bánh cũng sẽ ngọt, nhạt không đều.

Tiếp đó là chuẩn bị nhân bánh, đỗ xanh (còn nguyên hạt hay đã tách đôi đều được) ngâm nước đến khí tróc vỏ, rồi mang ra đãi sạch, sau đó cho vào nồi nấu như nấu cơm, thêm ít muối để nhân đậm đà. Nhân chín, đem ra cối tay giã thật nát, cho mật trộn đều, để màu nhân cùng giống với màu bánh.
Lá gói bánh thường phải là lá chuối khô, được xé đều, lau chùi sạch sẽ, và xếp lại thành cặp, để khi gói không mất thời gian xắp lá. Để chiếc bánh giữ được thời gian lâu và có mùi thơm đặc trưng thì lá chuối phải để khô tự nhiên, hạn chế dùng lá chuối hơ lửa, vì sẽ làm bánh dễ hỏng, có mùi khói, mất đi hương vị tự nhiên.
Xong phần nguyên liệu, là đến công đoạn gói bánh, nặn bột thành hình tròn (to nhỏ tùy theo chủ ý người làm), sau đó miết lại để có độ lõm ở phần giữa, dùng thìa cho nhân vào giữa vỏ bánh, gấp lại nhẹ nhàng, sao cho vỏ bánh được hàn kín, hạn chế để hở nhân, nếu không bánh dễ bị thiu. Tiếp đó, đặt bánh vào lá chuối, cuộn tròn và lăn lại để bánh có hình dài như quả chuối ngự, dùng dây buộc hai đầu cho kín, để nước không vào được trong bánh. 
Bánh gói xong bắc lên bếp, đồ cách thủy, chú ý giữ lửa đều hai bên để không bị sống góc.Theo kinh nghiệm đồ bánh dân gian thì, trước khi luộc bánh thắp một nén hương, khi hương cháy hết thì bánh chín.
Bánh mật thường để nguội mới ăn, người ta buộc bánh mật treo lên dây cho ráo nước, đợi bánh nguội hẳn thì bóc ra, cắt từng khoanh như giò. Khi ăn có vị ngọt mát của mật, vị dẻo của gạo nếp, vị thơm của đỗ và đậm đà của hương vị quê hương.
Nếu các bạn có dịp về thăm mảnh đất xứ thanh thì hãy cùng thưởng thức món bánh này nhé .chúc các bạn có những chuyến kì nghỉ ở thanh hóa thật là thú vị .

Cơm Lam - Món Quà Của Núi Rừng Xứ Thanh

Các bạn đến với dân tộc dao miền núi phía bắc của thanh hóa thì các bạn sẽ được biết đến món Cơm Lam của ngươi dân tộc dao –đó là món ẩm thực đặc trưng của miền núi xứ Thanh. Trong cái lạnh của vùng cao, ngồi quây quần bên bếp lửa hồng, thưởng thức ống cơm Lam đậm đà hương vị núi rừng thì quả là tuyệt!


Cơm Lam - Món Quà Của Núi Rừng Xứ Thanh
                                                

Từ cách nấu đến hương vị của cơm Lam cũng đặc biệt, cơm không nấu bằng nồi hoặc đồ trong chõ mà nấu trong ống nứa tươi. Để có một ống cơm Lam ngon không phải dễ, người ta chọn những cây nứa vừa trải qua thời kỳ măng sắp xòe lá, bẹ còn ốp lấy thân cây, đường kính bằng cổ tay người là thích hợp nhất. Gạo nấu cơm lam thường là gạo nếp mới, trước khi nấu được đãi sạch, cho muối vào trộn đều rồi đổ vào ống nứa. Khi nướng trên lửa, phải xoay đều ống nứa để các mặt ống được tiếp xúc với lửa, khi ống nứa ngả từ màu xanh sang vàng, cháy xén vỏ cật là cơm đã chín.

Trong những dịp lễ hội hay khách đến chơi nhà bên cạnh hũ rượu cần, thịt nướng, muối ớt…là những ống cơm Lam trắng muốt, mùi nếp thơm lẫn hương rừng đã được bày sẵn. Mỗi người một ống, bốn ngón tay nhẹ tách cái ống lam thành tư hoặc sáu rồi chấm với muối vừng, sang hơn thì ăn kèm thịt gà đồi hay thịt lợn rừng mà vẫn thấy rõ cái vị đậm đà của nó.  Cơm lam hẳn là quà tặng của núi rừng luôn hấp dẫn và khó quên trong lòng du khách.



Cẩm Thủy – Có một vùng ruộng bậc thang cực đẹp

Cẩm Thủy là huyện trung du miền núi của tỉnh. Phía Đông giáp huyện Vĩnh Lộc, phía Bắc giáp huyện Thạch Thành, phía Tây giáp huyện Bá Thước, phía Nam giáp huyện Ngọc Lặc. Diện tích 425,3 km2, 20 xã, thị trấn với trên 133,500 ngàn người của ba dân tộc anh em Mường, Kinh, Dao cùng chung sống. 



Ý nghĩa cái tên cẩm thủy

Cẩm Thủy đi qua các đời và tồn tại đến ngày nay không phải ngẫu nhiên mà cái tên lại có ở đời.Thời Đinh, Lê, Lý có tên là Cử Long Man, thời Trần, Hồ lại đổi tên là Lỗi Giang, sang thời Lê sơ có tên là Lạc Thủy, đến Lê Thánh tông (Quang Thuận 1460 – 1469) được đổi tên là huyện Cẩm Thủy và được giữ đến ngày nay.

Nếu ai đến Thanh Hóa, đi qua Khu Du lịch Hàm Rồng, ngắm cây cầu chiến tích, về  Sầm Sơn tắm biển, lên Lam Kinh thăm viếng đền đài vua Lê, đến thăm Thành Nhà Hồ mà không lên xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy chiêm ngắm đàn “cá thần” thì chuyến đi du lịch sẽ như thiếu đi một  “đặc sản  du lịch” của xứ Thanh. Nhiều người có thể đã biết đến suối cá Cẩm Lương. Đó là một đàn cá đông hàng ngàn con, con lớn nặng tới 5 kg, con nhỏ 0,5 kg. Thân hình của cá đều giống nhau và gần giống cá chép nhưng đuôi dài và đỏ, cá sống thành bầy đàn đông đúc không rời nhau. Những khi cá ra khỏi hang, bơi lội ở dòng suối, mật độ đàn cá đông đến nỗi ta hình dung như một đàn cá đang quây dần trong lưới. Cá sống trong một hang sâu của ngọn núi có tên là Trường Sinh, dòng nước trong xanh chảy ra suối từ ngọn núi này. 

Suối cá nay có từ bao giờ không ai rõ, chỉ biết rằng đàn cá từ bao năm nay cứ sinh sôi, nảy nở,  hàng ngày vẫn bơi lội  ra vào, tung, quẫy nô đùa với bà con dân bản, với du khách mà không ai bắt dù chỉ một con nhỏ. Du khách đến đây có thể đưa tay xuống suối mà chạm vào lưng, bụng, đuôi, sờ vào từng chú cá và sung sướng cảm nhận sự thân thiện của thiên nhiên có một không hai ở nước Việt mình qua những cái va chạm thần tiên ấy. Ta cũng sẽ được nghe người già  ở đây kể câu chuyện xưa rằng:  Tương truyền ngày xưa có hai vợ chồng hiếm muộn, hàng ngày thường ra thửa ruộng bên suối để trồng trọt và bắt tôm, cá làm thức ăn. Một hôm, người vợ vớt được một quả trứng, đem về nhà cho gà ấp thử, ít lâu sau quả trứng nở ra con rắn, được đem ra thả ở suối Ngọc nhưng cứ đến tối con rắn lại về nhà. Lâu dần rắn sống cùng vợ chồng người nông dân nọ. Từ khi có rắn trong nhà, làng quê mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, dân trong làng quý mến gọi rắn là “chàng rắn”. Bỗng một hôm sấm chớp nổi lên, sáng ra dân làng thấy xác “chàng rắn” dưới chân núi Trường Sinh bên bờ suối Ngọc, lại được thần linh báo mộng: Chàng rắn chết vì chiến đấu giết loài thủy quái về làm hại dân làng nên được Ngọc Hoàng phong chức Tứ Phủ Long Vương. Cũng từ đó, từ trong núi Trường Sinh có một đàn cá đông đúc bơi ra, ban ngày quanh quẩn bên suối Ngọc để chầu về  đền thờ Tứ Phủ Long Vương, ban đêm bơi vào trong hang núi Trường Sinh. Gần đây nhân dân trong huyện còn phát hiện ra ở mó Đóng, thôn Rùng, xã Cẩm Liên cũng xuất hiện đàn cá như vậy, đông hàng ngàn con bơi ra từ một hang núi và chỉ bơi xa hang núi chừng 500 mét rồi quay trở lại trong hang.

Từ TP Thanh Hóa lên xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy chừng 60 km, chúng ta sẽ gặp một ngọn núi hình con cóc nhô ra sông Mã có tên là Diệu Sơn. Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép:  “Núi Diệu Sơn cách trung tâm huyện Cẩm Thủy ba dặm, trước núi trông ra sông Mã, trên núi có động, trong động có hai chữ lớn là: “Cẩm Vân”, cửa động có hai chữ lớn: “Diệu Trí” khắc vào đá, nay vẫn còn”. Tương truyền động Diệu Sơn xưa kia còn có chùa phía trong động, nay chỉ có một bệ đá để đồ thờ cúng của du khách. Nếu chúng ta đi sâu vào trong sẽ gặp trên vách đá trong động còn khắc một bài thơ Đường luật của tác giả Nhật Nam nguyên chủ, tức của Chúa Trịnh Sâm khắc vào năm 1770. Có lẽ, người xưa đã từng ngồi trên những phiến đá trước cửa động trông ra dòng sông Mã mênh mang sóng nước, trong khung cảnh đất nước thanh bình, trăng mây muôn phần thơ mộng mà tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nên những vần thơ chứa chan tình yêu sông núi:
“Nhà không, hang rộng thợ trời xây
Màu nhiệm dấu truyền mãi tới nay
Muôn thuở trăng tà thăm động thẳm
Nửa song ghềnh cạn chín vòng xoay
Trong mây chuông vọng xua trần tục
Trước cửa tượng ngồi loang tuyết bay
Đất nước thanh bình vui mở hội
Bút lông bao quát núi sông này”


Đến Cẩm Thủy chúng ta không quên đến thăm chùa Ngọc Châu (chùa Giặng) ở Cẩm Sơn. Cái đặc biệt của ngôi chùa này là chùa làm trong một hang đá,  trong núi Tặng Sơn, bậc tam quan của chùa ở ngay cửa hang. Đây là ngôi chùa cổ  còn lưu giữ bia đá đề năm 1509 và một tấm bia đề năm  1654 nói về quy hoạch lại ruộng chùa và sửa chữa chiếc chuông đá của chùa. Hiện nay còn có một căn nhà sàn được  dựng lên trong khuôn viên chùa, cho khách thập phương tới, sau khi lễ bái,  có chỗ nghỉ  ngơi.
Trước khi chia tay với Cẩm Thủy, chúng ta hãy dừng lại trước Cửa Hà, xã Cẩm Phong. Cửa Hà là tên của một cửa động nằm trong dãy núi Gấm trông ra mép sông Mã, nơi đây tạo hóa khéo tạo  nên một vùng sông núi nên thơ, sông lồng bóng núi, gió lộng, mây bay in bóng bầu trời muôn hình, ngàn dạng khoáng đạt mà tĩnh lặng, tôn nghiêm mà rộng mở. Áp vào vách động nơi đây từng có đền thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh (tuy nhiên đền thờ này không may đã bị sập, đang có kế hoạch được xây dựng lại).  Kiến trúc đền thờ khi trước  nổi bật lên như một nét chấm phá trong bức tranh thủy mặc đầy ấn tượng,  gợi cho ta cảm giác thiền tâm, tĩnh lòng khi cuộc sống luôn biến động. Trên vách đền thờ áp vào mái đá, vào năm Quý Tỵ 1883 thời Nguyễn, có một văn nhân không rõ tên, đã khắc một bài thơ có nội dung:
“Núi cao vời vợi nước trong xanh
Cảnh cũ người nay thật hữu tình
Những tưởng mình chơi vườn bích ngọc
Vung roi vó ngựa chốn mây xanh
Văng vẳng nhạc thiều, âm sáo trúc
Rì rầm suối Ngọc khúc ngân thanh
Du lãm chốn này bao khách quý
Bồng lai tiên giới tại quê mình”.
Nhà thơ Tố Hữu năm 1986 về Cẩm Thủy, trước những cảnh đẹp say lòng, ông đã viết những vần thơ tha thiết:
…Nắng vờn núi Gấm chênh chênh
Sóng rờn sông Mã lượn quanh hàng đồi
Thuyền chài thôi kiếp dạt trôi
Thong dong bè nứa, quẫy đuôi cá lồng
Đôi  bờ xanh nõn ngô đông
Chè nương lạc bãi, lúa đồng xum xuê
Áo mầu vui mắt chợ quê
Ai xa Cẩm Thủy, có về lại lên!

Đến Cẩm Thủy chúng ta còn được thưởng thức nhiều món ẩm thực hấp dẫn như: món cá trắm sông Mã hấp lá đu đủ thơm và bùi, gà đồi thịt giòn và ngọt, ếch hấp củ chuối… và không thể thiếu những đêm nghe điệu Xường ngân nga trong ánh lửa nhà sàn, bên hũ rượu cần đón bạn đường xa mới đến chơi nhà, chơi bản…