Bánh mật xứ Thanh: vị quê Vĩnh Lộc

Bánh mật xứ thanh không phổ biến như các loại bánh truyền thống khác như: bánh trưng, bánh lá…, bánh mật được người Vĩnh Lộc - Thanh hóa làm trong những ngày lễ, tết lớn hoặc làm quà cho người ở xa về. Bánh có vị ngọt mát của mật, dẻo của gạo nếp, vị thơm của đỗ và đậm đà tình quê.

Bánh mật xứ Thanh: vị quê Vĩnh Lộc
Nhiều người dân xứ Thanh và đặc biệt là đến tôi đây có lẽ cũng chưa thể hiểu và nếm đủ các đặc sản xứ thanh nói chung và món Bánh mật nói riêng này. Thú thật là: "đến khi chạm mắt chạm tay, khi chạm đầu lưỡi thấy ... hay hay tôi mới cười" Quả thật: Bánh mật là một món bánh hợp khoái khẩu của tôi nhất khi đến vùng quê Vĩnh Lộc. Vĩnh Lộc hiện nay đang ngày một đổi mới. Tôi còn nhớ đầu huyện có ngôi chùa Giáng đẹp canh ao sen. Bên hông là một con đường và khúc cảnh ấy thật nhiều Bò (phải hàng trăm con Bò) Giờ đây mọi thứ đã đổi khác.. Tôi ước ao lắm một lần về lại nơi xưa. Ngắm và lang thang một vài nơi ngõ vắng...

Cách làm món bánh mật xứ Thanh
Muốn làm bánh mật ngon trước tiên phải chọn được loại gạo nếp thơm, (bột gạo quyết định đến 50% hương vị của bánh). Gạo nếp được xay khô cho thật mịn (bột càng mịn thì bánh càng dẻo), sau đó đổ mật vào trộn đều với bột, phải chú ý bàn tay nhào bột thật khéo, để bột không quá loãng hoặc quá khô, bánh cũng sẽ ngọt, nhạt không đều.

Tiếp đó là chuẩn bị nhân bánh, đỗ xanh (còn nguyên hạt hay đã tách đôi đều được) ngâm nước đến khí tróc vỏ, rồi mang ra đãi sạch, sau đó cho vào nồi nấu như nấu cơm, thêm ít muối để nhân đậm đà. Nhân chín, đem ra cối tay giã thật nát, cho mật trộn đều, để màu nhân cùng giống với màu bánh.
Lá gói bánh thường phải là lá chuối khô, được xé đều, lau chùi sạch sẽ, và xếp lại thành cặp, để khi gói không mất thời gian xắp lá. Để chiếc bánh giữ được thời gian lâu và có mùi thơm đặc trưng thì lá chuối phải để khô tự nhiên, hạn chế dùng lá chuối hơ lửa, vì sẽ làm bánh dễ hỏng, có mùi khói, mất đi hương vị tự nhiên.
Xong phần nguyên liệu, là đến công đoạn gói bánh, nặn bột thành hình tròn (to nhỏ tùy theo chủ ý người làm), sau đó miết lại để có độ lõm ở phần giữa, dùng thìa cho nhân vào giữa vỏ bánh, gấp lại nhẹ nhàng, sao cho vỏ bánh được hàn kín, hạn chế để hở nhân, nếu không bánh dễ bị thiu. Tiếp đó, đặt bánh vào lá chuối, cuộn tròn và lăn lại để bánh có hình dài như quả chuối ngự, dùng dây buộc hai đầu cho kín, để nước không vào được trong bánh. 
Bánh gói xong bắc lên bếp, đồ cách thủy, chú ý giữ lửa đều hai bên để không bị sống góc.Theo kinh nghiệm đồ bánh dân gian thì, trước khi luộc bánh thắp một nén hương, khi hương cháy hết thì bánh chín.
Bánh mật thường để nguội mới ăn, người ta buộc bánh mật treo lên dây cho ráo nước, đợi bánh nguội hẳn thì bóc ra, cắt từng khoanh như giò. Khi ăn có vị ngọt mát của mật, vị dẻo của gạo nếp, vị thơm của đỗ và đậm đà của hương vị quê hương.
Nếu các bạn có dịp về thăm mảnh đất xứ thanh thì hãy cùng thưởng thức món bánh này nhé .chúc các bạn có những chuyến kì nghỉ ở thanh hóa thật là thú vị .

Cơm Lam - Món Quà Của Núi Rừng Xứ Thanh

Các bạn đến với dân tộc dao miền núi phía bắc của thanh hóa thì các bạn sẽ được biết đến món Cơm Lam của ngươi dân tộc dao –đó là món ẩm thực đặc trưng của miền núi xứ Thanh. Trong cái lạnh của vùng cao, ngồi quây quần bên bếp lửa hồng, thưởng thức ống cơm Lam đậm đà hương vị núi rừng thì quả là tuyệt!


Cơm Lam - Món Quà Của Núi Rừng Xứ Thanh
                                                

Từ cách nấu đến hương vị của cơm Lam cũng đặc biệt, cơm không nấu bằng nồi hoặc đồ trong chõ mà nấu trong ống nứa tươi. Để có một ống cơm Lam ngon không phải dễ, người ta chọn những cây nứa vừa trải qua thời kỳ măng sắp xòe lá, bẹ còn ốp lấy thân cây, đường kính bằng cổ tay người là thích hợp nhất. Gạo nấu cơm lam thường là gạo nếp mới, trước khi nấu được đãi sạch, cho muối vào trộn đều rồi đổ vào ống nứa. Khi nướng trên lửa, phải xoay đều ống nứa để các mặt ống được tiếp xúc với lửa, khi ống nứa ngả từ màu xanh sang vàng, cháy xén vỏ cật là cơm đã chín.

Trong những dịp lễ hội hay khách đến chơi nhà bên cạnh hũ rượu cần, thịt nướng, muối ớt…là những ống cơm Lam trắng muốt, mùi nếp thơm lẫn hương rừng đã được bày sẵn. Mỗi người một ống, bốn ngón tay nhẹ tách cái ống lam thành tư hoặc sáu rồi chấm với muối vừng, sang hơn thì ăn kèm thịt gà đồi hay thịt lợn rừng mà vẫn thấy rõ cái vị đậm đà của nó.  Cơm lam hẳn là quà tặng của núi rừng luôn hấp dẫn và khó quên trong lòng du khách.



Cẩm Thủy – Có một vùng ruộng bậc thang cực đẹp

Cẩm Thủy là huyện trung du miền núi của tỉnh. Phía Đông giáp huyện Vĩnh Lộc, phía Bắc giáp huyện Thạch Thành, phía Tây giáp huyện Bá Thước, phía Nam giáp huyện Ngọc Lặc. Diện tích 425,3 km2, 20 xã, thị trấn với trên 133,500 ngàn người của ba dân tộc anh em Mường, Kinh, Dao cùng chung sống. 



Ý nghĩa cái tên cẩm thủy

Cẩm Thủy đi qua các đời và tồn tại đến ngày nay không phải ngẫu nhiên mà cái tên lại có ở đời.Thời Đinh, Lê, Lý có tên là Cử Long Man, thời Trần, Hồ lại đổi tên là Lỗi Giang, sang thời Lê sơ có tên là Lạc Thủy, đến Lê Thánh tông (Quang Thuận 1460 – 1469) được đổi tên là huyện Cẩm Thủy và được giữ đến ngày nay.

Nếu ai đến Thanh Hóa, đi qua Khu Du lịch Hàm Rồng, ngắm cây cầu chiến tích, về  Sầm Sơn tắm biển, lên Lam Kinh thăm viếng đền đài vua Lê, đến thăm Thành Nhà Hồ mà không lên xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy chiêm ngắm đàn “cá thần” thì chuyến đi du lịch sẽ như thiếu đi một  “đặc sản  du lịch” của xứ Thanh. Nhiều người có thể đã biết đến suối cá Cẩm Lương. Đó là một đàn cá đông hàng ngàn con, con lớn nặng tới 5 kg, con nhỏ 0,5 kg. Thân hình của cá đều giống nhau và gần giống cá chép nhưng đuôi dài và đỏ, cá sống thành bầy đàn đông đúc không rời nhau. Những khi cá ra khỏi hang, bơi lội ở dòng suối, mật độ đàn cá đông đến nỗi ta hình dung như một đàn cá đang quây dần trong lưới. Cá sống trong một hang sâu của ngọn núi có tên là Trường Sinh, dòng nước trong xanh chảy ra suối từ ngọn núi này. 

Suối cá nay có từ bao giờ không ai rõ, chỉ biết rằng đàn cá từ bao năm nay cứ sinh sôi, nảy nở,  hàng ngày vẫn bơi lội  ra vào, tung, quẫy nô đùa với bà con dân bản, với du khách mà không ai bắt dù chỉ một con nhỏ. Du khách đến đây có thể đưa tay xuống suối mà chạm vào lưng, bụng, đuôi, sờ vào từng chú cá và sung sướng cảm nhận sự thân thiện của thiên nhiên có một không hai ở nước Việt mình qua những cái va chạm thần tiên ấy. Ta cũng sẽ được nghe người già  ở đây kể câu chuyện xưa rằng:  Tương truyền ngày xưa có hai vợ chồng hiếm muộn, hàng ngày thường ra thửa ruộng bên suối để trồng trọt và bắt tôm, cá làm thức ăn. Một hôm, người vợ vớt được một quả trứng, đem về nhà cho gà ấp thử, ít lâu sau quả trứng nở ra con rắn, được đem ra thả ở suối Ngọc nhưng cứ đến tối con rắn lại về nhà. Lâu dần rắn sống cùng vợ chồng người nông dân nọ. Từ khi có rắn trong nhà, làng quê mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, dân trong làng quý mến gọi rắn là “chàng rắn”. Bỗng một hôm sấm chớp nổi lên, sáng ra dân làng thấy xác “chàng rắn” dưới chân núi Trường Sinh bên bờ suối Ngọc, lại được thần linh báo mộng: Chàng rắn chết vì chiến đấu giết loài thủy quái về làm hại dân làng nên được Ngọc Hoàng phong chức Tứ Phủ Long Vương. Cũng từ đó, từ trong núi Trường Sinh có một đàn cá đông đúc bơi ra, ban ngày quanh quẩn bên suối Ngọc để chầu về  đền thờ Tứ Phủ Long Vương, ban đêm bơi vào trong hang núi Trường Sinh. Gần đây nhân dân trong huyện còn phát hiện ra ở mó Đóng, thôn Rùng, xã Cẩm Liên cũng xuất hiện đàn cá như vậy, đông hàng ngàn con bơi ra từ một hang núi và chỉ bơi xa hang núi chừng 500 mét rồi quay trở lại trong hang.

Từ TP Thanh Hóa lên xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy chừng 60 km, chúng ta sẽ gặp một ngọn núi hình con cóc nhô ra sông Mã có tên là Diệu Sơn. Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép:  “Núi Diệu Sơn cách trung tâm huyện Cẩm Thủy ba dặm, trước núi trông ra sông Mã, trên núi có động, trong động có hai chữ lớn là: “Cẩm Vân”, cửa động có hai chữ lớn: “Diệu Trí” khắc vào đá, nay vẫn còn”. Tương truyền động Diệu Sơn xưa kia còn có chùa phía trong động, nay chỉ có một bệ đá để đồ thờ cúng của du khách. Nếu chúng ta đi sâu vào trong sẽ gặp trên vách đá trong động còn khắc một bài thơ Đường luật của tác giả Nhật Nam nguyên chủ, tức của Chúa Trịnh Sâm khắc vào năm 1770. Có lẽ, người xưa đã từng ngồi trên những phiến đá trước cửa động trông ra dòng sông Mã mênh mang sóng nước, trong khung cảnh đất nước thanh bình, trăng mây muôn phần thơ mộng mà tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nên những vần thơ chứa chan tình yêu sông núi:
“Nhà không, hang rộng thợ trời xây
Màu nhiệm dấu truyền mãi tới nay
Muôn thuở trăng tà thăm động thẳm
Nửa song ghềnh cạn chín vòng xoay
Trong mây chuông vọng xua trần tục
Trước cửa tượng ngồi loang tuyết bay
Đất nước thanh bình vui mở hội
Bút lông bao quát núi sông này”


Đến Cẩm Thủy chúng ta không quên đến thăm chùa Ngọc Châu (chùa Giặng) ở Cẩm Sơn. Cái đặc biệt của ngôi chùa này là chùa làm trong một hang đá,  trong núi Tặng Sơn, bậc tam quan của chùa ở ngay cửa hang. Đây là ngôi chùa cổ  còn lưu giữ bia đá đề năm 1509 và một tấm bia đề năm  1654 nói về quy hoạch lại ruộng chùa và sửa chữa chiếc chuông đá của chùa. Hiện nay còn có một căn nhà sàn được  dựng lên trong khuôn viên chùa, cho khách thập phương tới, sau khi lễ bái,  có chỗ nghỉ  ngơi.
Trước khi chia tay với Cẩm Thủy, chúng ta hãy dừng lại trước Cửa Hà, xã Cẩm Phong. Cửa Hà là tên của một cửa động nằm trong dãy núi Gấm trông ra mép sông Mã, nơi đây tạo hóa khéo tạo  nên một vùng sông núi nên thơ, sông lồng bóng núi, gió lộng, mây bay in bóng bầu trời muôn hình, ngàn dạng khoáng đạt mà tĩnh lặng, tôn nghiêm mà rộng mở. Áp vào vách động nơi đây từng có đền thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh (tuy nhiên đền thờ này không may đã bị sập, đang có kế hoạch được xây dựng lại).  Kiến trúc đền thờ khi trước  nổi bật lên như một nét chấm phá trong bức tranh thủy mặc đầy ấn tượng,  gợi cho ta cảm giác thiền tâm, tĩnh lòng khi cuộc sống luôn biến động. Trên vách đền thờ áp vào mái đá, vào năm Quý Tỵ 1883 thời Nguyễn, có một văn nhân không rõ tên, đã khắc một bài thơ có nội dung:
“Núi cao vời vợi nước trong xanh
Cảnh cũ người nay thật hữu tình
Những tưởng mình chơi vườn bích ngọc
Vung roi vó ngựa chốn mây xanh
Văng vẳng nhạc thiều, âm sáo trúc
Rì rầm suối Ngọc khúc ngân thanh
Du lãm chốn này bao khách quý
Bồng lai tiên giới tại quê mình”.
Nhà thơ Tố Hữu năm 1986 về Cẩm Thủy, trước những cảnh đẹp say lòng, ông đã viết những vần thơ tha thiết:
…Nắng vờn núi Gấm chênh chênh
Sóng rờn sông Mã lượn quanh hàng đồi
Thuyền chài thôi kiếp dạt trôi
Thong dong bè nứa, quẫy đuôi cá lồng
Đôi  bờ xanh nõn ngô đông
Chè nương lạc bãi, lúa đồng xum xuê
Áo mầu vui mắt chợ quê
Ai xa Cẩm Thủy, có về lại lên!

Đến Cẩm Thủy chúng ta còn được thưởng thức nhiều món ẩm thực hấp dẫn như: món cá trắm sông Mã hấp lá đu đủ thơm và bùi, gà đồi thịt giòn và ngọt, ếch hấp củ chuối… và không thể thiếu những đêm nghe điệu Xường ngân nga trong ánh lửa nhà sàn, bên hũ rượu cần đón bạn đường xa mới đến chơi nhà, chơi bản…

Bún Riêu Cua Rau Rút

Nếu các bạn đi xa mà có lần nào được nghỉ ngơi và ghé qua chợ ghềnh thì các bạn sẽ biết đến cái món bún cua rau rút đặc sản của xứ thanh quê tôi . Và Cái món bún cua rau rút chân quê ấy có lẽ chỉ có ở chợ Ghềnh (cạnh đường quốc lộ 1A giáp giới với ga Đồng Giao địa đầu tỉnh Thanh Hóa)

Một điều bất ngờ là ở cái chợ nhỏ nhoi này lại ẩn chứa lắm món quà dân dã đến thế, nào là bánh đúc chấm mắm tôm, bánh đa cắn với cùi dừa, bánh xèo rắc tép toàn là những món truyền thống và đặc biệt là bún cua đồng nấu với rau rút là thứ quà không mấy ai đi chợ không ghé vào ăn kể cả đàn ông chẳng cứ gì đàn bà con gái. Quả lạ bún cua rau rút ngon miệng thật mặc dù bát bún vẻn vẹn chỉ có ba thú đơn sơ mà hấp dẫn. 

Bún Riêu Cua Rau Rút

Nhìn sợi bún đã trắng đẹp lại sáng mặt tròn đều tăm tắp, ăn giòn hơi dai dai, đậm thơm chất gạo ngon chứ không nhạt nhẽo. Đó là bún Thạch Lỗi cái thôn nhỏ làm bún nổi tiếng một vùng quê bên bờ sông vạc thuộc đất huyện Yên Mô bây giờ. Mẻ bún làm ra được đặt ngay vào một cái rá rất to để được canh ra cho đều hứng lấy những ngọn gió thoảng qua để làm cho sợi bún săn lại để có được sợi bún ngon và nấu lên không vữa .
Con cua ở đây cũng không phải cua ruộng mà là cua ở trong khe đá và dưới đầm sâu nên cua chắc thịt và béo nung núc. Cua nhiều nhất là ở hai thôn Quang Hiển và Đàm Khánh, phía trước và sau ga Ghềnh. Đàm Khánh chủ yếu là đất đồng cỏ: lắm cỏ nàn cỏ lác, nhiều tôm tép nên cua cũng béo. Con cua ở đây nấu thành riêu thành canh húp ngọt lự không cần mì chính cũng ngon mà cũng chẳng phải tra thêm nước mắm nhĩ gần như nấu suông mà chẳng thua kém nước dùng gà.
Đến rau rút, loại rau có “phai trắng" nổi lềnh bềnh trên mặt ao nước ngọt của vùng quê Trà Tu, Lý Nhân gần chợ Ghềnh. Rau mới vớt con tươi nguyên, rút bỏ cái phao trắng bên ngoài còn trơ lại cái cọng giòn xanh, thế mới là chất rau ngon đủ tiêu chuẩn làm nên món bún riêu đặc sản.
Cả bún, cả cua, cả rau ba thứ nấu chung một nồi. Lại phải là loại nồi đất nung cỡ đại gần như kiểu nồi thửa để ngâm giá. Nấu chín bắc ra ủ ngay vào một cái “ổ” đan bằng nan tre to, xung quanh nồi quấn chặt bao tải để giữ cho nồi nóng lâu. Canh mà nguội ăn chẳng ra gì. Có cầu kỳ kén chọn như vậy mới thành đặc sản.

Bún Riêu Cua Rau Rút
Bí quyết của món quà quê này được nhiều người trong vùng ưa thích là ở chỗ con cua được rửa sạch giã nhuyễn lọc lấy nước thật trong rồi bỏ rau rút bún rối vào nổi đun sôi sục sau rút bớt lửa cho sôi lăn tăn để sao cho rau rút không bị nhũn và sợi bún không bị nhão cho nên người nấu cũng phải là tay lão luyện chuyên nghề nấu bún riêu cua rau rút mới có được nổi bún ngon đắt khách. Còn gạch cua đem chưng lên với mỡ nước cho tới khi vàng ươm, óng ánh thơm phức, để riêng một nơi. Mỗi bát bún chỉ được “tráng" một chút “màu" gạch cua cũng đủ ngon lắm rồi.
Trời mùa hè hôm không nắng gắt, ngồi trong một cái lều tuềnh toàng cả bốn phía đều có gió lùa, người ăn một tay bưng bát bún cua rau rút nóng bỏng, một tay cầm đôi đũa tre mới vót đủng đỉnh đưa miếng bún vào miệng, húp một chút canh nóng tê dại đầu lưỡi mới cảm nhận được cái chất quà quê dân dã đang thấm đậm lòng dạ người ăn hơn cả những lúc ngồi ăn cao lương mĩ vị nơi phồn hoa đô hội. Các bạn ăn sẽ được hưởng cái vị ngọt ngon của bát bún riêu cua rau rút nơi đồng chiêm trũng hay không? Tôi nghĩ các bạn ăn vào là không thể quên được cái vị ngon và ngọt thấm vào đầu lưỡi của mỗi người ăn nó bởi đó là món ăn truyền thống và đặc sản của dân tộc xứ thanh quê tôi !

Đặc Sản Thanh Hóa Tiếng lành đồn xa .

Tất cả các bạn bè trong nước và trên thế giới thường nhắc đến ẩm thực Thanh Hóa với món ăn nổi tiếng là nem chua. Nhưng ở xứ thanh quê tôi còn còn có nhiều món lạ rất ngon khác như mắm tép,nem nướng, canh đắng hay bánh răng bừa, ...

Mắm tép hà yên(hà trung)

Mắm tép Hà Yên là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, nổi tiếng nhất là hai làng Ðình Trung và Yên Xá thuộc xã Hà Yên, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Từ xa xưa đã có câu Giò nạc Yên Xá, nước mắm Ðình Trung.

 

Làng Ðình Trung là một làng Việt cổ, nằm ven sông Hoạt, chuyên làm nghề mắm tép. Công việc làm mắm tép đòi hỏi phải theo mùa, khi tép ngon, béo. Hằng năm cứ đến vụ cày bừa đông (tháng 11 và 12 âm lịch) cả làng ra đồng đánh tép. Dụng cụ đánh bắt tép có nhiều loại, nhưng phổ biến nhất vẫn là cái riu - một dụng cụ đan bằng tre, nứa hình con tôm cong ngược, được đẩy trong nước đánh rất tiện. Chỗ nào nhiều rong rẻ và rong trơn thì mới nhiều tép ngon. 

 

Mắm tép hà yên(hà trung)

Dân làng Ðình Trung chỉ chọn loại tép riu làm nguyên liệu chế biến nước mắm, còn tép gạo tuy to và nạc hơn nhưng khi làm mắm không ngon. Tép riu đánh về nhặt sạch rong rêu và cá tạp, để cho thật ráo nước. Cứ mười bát tép là bốn bát muối, hai bát gạo rang giã nhỏ (thính) trộn đều, cho vào chum, chĩnh hoặc vại tùy theo số lượng tép, đổ nước vừa xăm xắp, rồi đậy kín. Mắm tép để càng lâu càng ngon, nhưng nhanh nhất cũng phải sáu tháng trở lên. 

 

Khi nấu nước mắm, người ta cho mắm tép vào một túi vải, rồi vắt kiệt lấy nước cốt cho vào nồi nấu lên, khi đun vừa lửa, nếu muốn mắm đặc thì đun lâu hơn. Nước mắm thơm ngon cũng là một bí quyết, trong khi nấu những người dân ở đây còn cho đậu xanh rang vàng, giã nhỏ đun sôi một lúc. Khi nấu giữ độ lửa sao cho khi rót ra, mắm có  ánh vàng, sóng sánh như mật ong.





Mắm tép hà yên(hà trung)
Trước đây nước mắm tép Ðình Trung được tiến vua. Xưa kia mỗi lần làm nước mắm tiến vua thì các chức sắc trong làng phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Ðam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, loại tép riu nhỏ, có mầu trong xanh, muối lên mầu đỏ trông thật ngon mắt. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Ðồ dùng để muối tép gọi là ton (giỏ) hình tròn to và đều nhau, để vào trong vại hoặc chum. Miệng của ton vừa bằng ngang miệng vại, chum, rồi mới cho tép trộn thính, muối được đổ chung quanh ton. Trong thời gian muối, nước cốt của mắm ngấm sang cái ton, đến khi mắm đủ độ chín thì dùng gáo bằng nứa, múc nước cốt đã ngấm đó, rồi theo bí quyết riêng nấu nước mắm .

Và cách ăn mắm tép cũng rất đơn giản trước khi ăn, mắm tép trưng qua hành mỡ hoặc đơn giản hơn có thể cho bát mắm hấp cơm rồi dùng kèm với thịt ba chỉ, chuối xanh, dưa chuột. Ngoài ra, kho mắm tép với thịt cũng là một món ăn độc đáo.


Thơm nồng hương vị nem nướng (nem thính)
Thơm nồng hương vị nem nướng (nem thính)
Đây là món nem thính với vị chua của thịt trộn với thính, lá ổi và được cuốn bên ngoài bởi lá chuối khô, sau khi chế biến, nem ngấu, mang đi nướng nên được gọi là nem nướng. Món nem này được làm từ thịt lợn miếng đem ướp với mắm, muối, bột ngọt, hạt tiêu... Thêm tỏi băm trộn tùy theo khẩu vị, đảo thật đều cho ngấm rồi rắc thính vào vừa đủ khô.

Thơm nồng hương vị nem nướng (nem thính)


Sau khi ngấu, món nem này được vùi trong tro bếp để ủ chín là thơm ngon nhất. Nhựa từ bì heo sẽ chảy ra, nổ tí tách, tỏa thơm lừng là lúc nem đã chín. Bóc hết lớp lá chuối bao ngoài rồi chấm tương cay xè. Nem nướng còn có thể ăn với xà lách, rau sống, chuối chát, khế... cuốn trong bánh đa nem đặc trưng của miền Bắc Trung Bộ.




Thơm nồng hương vị nem nướng (nem thính)




Ngọt bùi canh đắng xứ Thanh

Với đặc trưng là vị khá đắng nên bạn không dễ gì có thể quen ngay được khi nếm thử lần đầu. Nhưng chỉ sau một vài lần "nhắm mắt" thưởng thức, bạn sẽ "nghiện" cái vị đắng đặc trưng này. Bởi cảm giác đắng ban đầu chỉ ở đầu lưỡi, còn khi nuốt vào trong cổ họng, thì lại cảm thấy thanh mát, ngòn ngọt...

Lá đắng dùng nấu canh là một loại lá tự nhiên mọc trong rừng có hình dáng giống lá sắn. Nhưng không phải loại lá đắng nào cũng có thể cho bát canh ngon. Người dân xứ Thanh thường chọn hái loại lá dài và mỏng.
Ngọt bùi canh đắng xứ Thanh

Ngày nay, để tiện dụng, lá đắng thường được hái về, phơi khô rồi xé nhỏ. Khi nấu canh, chỉ cần bốc lấy một nhúm lá bỏ vào nồi. Tuy khô nhưng nhựa của lá vẫn còn được bảo tồn. Chính vị đắng từ nhựa đã tạo nên sự ngon, lạ của món canh này.
Canh lá đắng thường được nấu cùng với thịt lợn hoặc cá băm nhỏ, thêm một chút riềng, sả, cơm mẻ, mắm tôm ngon rồi bóp tất cả cho thật đều với nhau, ướp trong khoảng 15 phút. Sau đó, bắc nồi lên bếp đảo đều, đun lửa nhỏ.

Lửa vừa bén vào, mùi thơm của riềng sả, mắm tôm dậy lên đã khiến bụng dạ cồn cào. Đầu bếp cứ để cho nồi canh ngấm gia vị, sôi liu riu trên bếp lửa chừng vài phút rồi đổ thêm vào vài bát nước. Khi nào nồi canh sôi bùng lên, khuấy vào thấy sền sệt là được.

Trong mùa hè nóng nực, bạn húp bát canh đắng cũng thấy tỉnh hẳn người, bao mệt mỏi dường như tan biến.

Thơm ngon hương vị bánh răng bừa
Gọi là bánh răng bừa vì hình chiếc bánh vừa dài vừa nhỏ như chiếc răng bừa. Bất cứ ai đi xa cũng không thể quên được cái mùi thơm thoang thoảng của lá dong hòa quyện với mùi thơm của nhân thịt và bột gạo tẻ.

Thơm ngon hương vị bánh răng bừa

Lớp lá gói bánh bên trong thường là lá chuối khô hoặc lá chuối tươi hơ qua lửa cho dai và dẻo hơn. Bên ngoài mới là lớp lá dong để tạo màu xanh và vị thơm đặc trưng cho bánh.

Gạo làm bánh phải ngâm cùng một ít nước vôi qua đêm để bánh có màu xanh đẹp mắt . Sau đó mang gạo đi xay thành bột nước vừa phải. Tiếp đến, cho bột gạo vào nồi bắc lên bếp củi để lửa nhỏ, dùng tay khuấy đều nồi bột cho khỏi bị vón cục. 

Quấy bột được coi là công đoạn khó nhất khi làm bánh răng bừa, bánh ngon hay không, dẻo hay bị cứng, mịn hay là có các đường nứt đều phụ thuộc vào tay người khuấy bột. Nhân bánh làm từ hành khô phi thơm lừng, thịt ba chỉ băm nhỏ rồi trộn chung với hạt tiêu, mộc nhĩ đảo đều tay, khi thịt hơi săn, tỏa mùi thơm là được.
Thơm ngon hương vị bánh răng bừa

Bánh được ăn kèm với nước mắm chanh ớt, ăn mãi không thấy ngán!

Bánh gai Tứ Trụ - Đặc sản xứ Thanh

Nhắc đến bánh gai thì có rất nhiều làng quê trong cả nước sản xuất thứ bánh đặc sản này. Nhưng ai đã một lần có dịp thưởng thức bánh gai Tứ Trụ của làng Mía, xã Thọ Diên, Huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa thì không thể quên được hương vị thơm ngon, đặc biệt của món ăn đậm chất dân dã. Và bánh gai Tứ Trụ từ lâu đã nổi tiếng như một thương hiệu, trở thành món quà không thể thiếu với những ai đã từng một lần đến với xứ Thanh. 
Bánh gai Tứ Trụ - Đặc sản xứ Thanh


Với chiếc bánh dẻo mịn, có mùi thơm đặc trưng của lá chuối tiêu, hòa quyện với cái vị dịu mát của lá gai, gạo nếp và mật mía, thêm cái ngọt thanh thanh của nhân đậu, bùi bùi của dừa khô, đậm đà của thịt nạc... đủ níu lòng những người con xa quê.

Bánh gai Tứ Trụ có một mùi vị đặc trưng thật lạ. Quy trình làm bánh gai tuy không khó nhưng khá công phu. Lá gai khô sau khi làm sạch phải đem luộc chín, sau đó vớt ra, để ráo nước rồi giã thật nhuyễn. Đem bột lá gai giã nhỏ trộn đều với bột gạo nếp và mật mía, tạo thành một thứ bột dẻo mịn có mầu nâu đen, sáng bóng. Sau đó, đem gói trong lớp lá chuối khô, ở giữa là nhân tổng hợp với chủ yếu là bột đậu xanh, thêm chút cùi dừa, thịt nạc và hành nướng. Ngoài ra còn cho thêm vài giọt dầu chuối để bánh có mùi vị hấp dẫn. Bánh sau khi gói xong đem hấp trong khoảng 1h là có thể thưởng thức được.
Bí quyết gia truyền đã làm nên hương vị thơm ngon, đặc trưng của bánh gai Tứ Trụ. Mùa hè, bánh có thể để được 1 tuần, mùa đông thì để độ mươi ngày. Nếu làm thủ công, mỗi hộ mỗi ngày chỉ làm được vài trăm bánh. Còn với sự hỗ trợ từ máy móc như hiện nay thì mỗi ngày, một hộ như gia đình ở làng Mía cũng có thể làm tới 2000 đến 2500 chiếc.

Bánh đã ngon nhưng thưởng thức bánh cũng phải đúng cách. Khi bóc bánh, đến lớp lá trong cùng phải bóc theo kiểu tước nhỏ giống bóc bánh nếp. Vì bánh dẻo và dính nên không thể bóc giống bóc bánh lá hay bánh giò. Thưởng thức từng miếng bánh thơm ngon, bùi ngọt của gai, của mật, thấy hương thơm ngây ngất, quyến rũ, lại nhâm nhi cùng tách trà mạn phảng phất hương sen thì có lẽ không gì bằng.

Người dân làng Tứ Trụ (nay là Xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) thường trồng cây lá gai ở bãi bồi ven sông Chu. Có lẽ bởi phù sa ở đây màu mỡ mà cây nào cũng tươi tốt, lá to bản và xanh mơn mởn. Đến độ làm bánh, lá gai được hái về, chọn những lá lành lặn, bỏ cuống, tỉ mẩn tước hết từng cái gân lá một, rồi đem phơi cho thật khô. Khi ấy, một mặt lá đã chuyển màu đen thẫm, mặt kia hơi trắng xám là được. Sau đó đem rửa sạch và bỏ vào nồi luộc thật kỹ. Thường để cho lá thật mềm, chúng tôi phải ninh liên tục từ 1-2 ngày, lâu lâu lại đổ ra thay nước mới để luộc tiếp.
Bánh gai Tứ Trụ - Đặc sản xứ Thanh

Khi lá đã luộc xong, thì vớt ra, nắm lại thành từng cục để vắt cho kiệt nước, lúc đấy mới đem đi giã nhuyễn. Giã lá gai bằng cối có thể nói là công đoạn nặng nhọc nhất trong cả quy trình làm bánh. Vì lá gai phải được giã rất lâu mới trở nên mịn được, giã càng mịn thì bánh càng ngon, càng tròn vị thì càng thơm ngon .
Sau khi giã xong, người ta trộn bột lá gai với bột nếp và mật mía rồi lại đem vào cối đại giã tiếp. Để bánh ngon hơn, người ta phải kén cho được gạo nếp hoa cau để làm cán thành bột, vì nếp này thơm và rất dẻo. Lần giã này vất vả hơn và đòi hỏi người giã phải thật đều tay, đủ độ mạnh để cho hỗn hợp này thật nhuyễn và mịn. Đây là giai đoạn “lèn bánh”. Giai đoạn này chỉ kết thúc khi ta dùng tay xoa xoa ít bột thấy thật mịn, hỗn hợp có màu đen bóng, dễ tạo khối. Nếu không phải thợ làm bánh chuyên nghiệp thì rất dễ để bột bị nhão hoặc khô quá, do lượng mật mía cho vào không thích hợp.
Tiếp đến là nhân bánh gồm: đậu xanh đồ lên giã cùng với đường cho thật mịn, thêm một ít dừa nạo rang khô và chút thịt lợn nạc cho đậm vị, cuối cùng rắc vào hỗn hợp vài giọt dầu chuối cho thơm. Lấy bột bánh nặn thành từng cục tròn rồi dàn mỏng trong lòng bàn tay, lấy nhân cho vào giữa rồi vê lại sao cho bột phủ kín phần nhân bên trong, tạo hình bánh tròn, đầy đặn. Sau đó lăn bánh lên cái mâm nhôm có rải sẵn vừng rang khô. Vị bùi bùi của vừng sẽ làm bớt hắc, và khi bóc bánh đỡ bị dính vào lá. Sau đó đem gói bánh bằng lá chuối khô, mà phải là lá từ cây chuối tiêu, để già và khô tự nhiên trên cây thì mùi bánh sau này mới thơm được.
Cuối cùng là đem bánh đi hấp. Làm bánh vất vả bao nhiêu mà chỉ cần hấp bánh chín chưa tới, hoặc chín quá thì coi như công “dã tràng” hết. Vì nếu hấp chưa chín mà đem đi hấp lại thì sẽ mất hết vị bánh, nên thợ bánh khi hấp phải căn rất cẩn thận, từ nhiệt độ, lượng nước, thời gian... để khi vớt ra là bánh vừa chín tới. Có những thợ bánh lâu năm họ chỉ cần ngửi mùi thơm của bánh là biết ngay bánh chín hay chưa. Sau khi vớt bánh ra, để nguội và thật ráo nước rồi dùng lạt nhuộm màu đỏ, cột chặt từng chiếc một, và bó năm chiếc lại với nhau sao cho thật vuông vức. Lúc này, người thợ làm bánh mới có thể thở phào nhẹ nhõm cho một mẻ bánh đã hoàn thiện.
Bánh gai Tứ Trụ - Đặc sản xứ Thanh

Một chiếc bánh đạt yêu cầu là thịt bánh phải vừa dẻo mịn vừa thơm đặc trưng của lá chuối tiêu, hòa quyện với cái vị dịu mát của lá gai, gạo nếp và mật mía, phảng phất hương thơm nồng của dầu chuối, thêm cái ngọt thanh thanh của nhân đậu, bùi bùi của dừa khô, đậm đà của thịt nạc…Thế mới đủ níu lòng những người con xa quê và những du khách trong và ngoài nước kèm theo về làm quà cho những người thân yêu của mình .
Bánh gai Tứ Trụ của huyện Thọ Xuân thật là giản dị từ cái vẻ ngoài mộc mạc của lá chuối khô cho tới những nguyên liệu dân giã sẵn có như lá gai, gạo nếp, mật mía, đậu xanh... mà cứ thế, đi vào đời sống của người dân và trở thành một nét văn hóa đặc trưng của vùng miền. Bánh gai mộc mạc, dân giã là thế nhưng lại được đặt trang trọng trên bàn thờ gia tiên mỗi dịp Tết hay giỗ Lê Lai, Lê Lợi và là đặc sản cho những người con xứ Thanh mang đi làm quà.

Tỉnh Thanh Hóa xúc tiến cải tạo sân bay Sao Vàng(Thọ Xuân)

Thanh hóa đang đã và đang triển  khai thêm sân bay sao vàng theo Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa,và  tỉnh này đang khẩn trương chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan của Trung ương hoàn tất các thủ tục về đầu tư xây dựng, sớm triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo đủ điều kiện đưa vào khai thác đường bay dân dụng sân bay Sao Vàng giai đoạn 1 vào cuối năm 2012 và 2013 .

Tỉnh Thanh Hóa xúc tiến cải tạo sân bay Sao Vàng(Thọ Xuân)

Theo đó, tỉnh đồng ý giải quyết các kiến nghị của Vietnam Airlines đảm bảo cho hoạt động bay như đào tạo nguồn nhân lực địa phương về dịch vụ bán vé, tổ chức khai thác bay; đảm bảo các hoạt động lưu trú cho hành khách; quảng cáo đường bay...

Tỉnh giao Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thanh Hóa khẩn trương hoàn thành quy hoạch đường giao thông nối Quốc lộ 47 với sân bay Sao Vàng, phối hợp với các đơn vị lập quy hoạch mở rộng sân bay dân dụng, cắm mốc chỉ giới giải phóng mặt bằng; giao cho huyện Thọ Xuân thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đảm bảo tiến độ.

Sân bay Sao Vàng là sân bay quân sự nằm ở thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hóa 45km về phía Tây. Tháng 5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản về việc khai thác sân bay Sao Vàng để phục vụ hoạt động hàng không dân dụng. Theo đó, Chính phủ giao cho Bộ Giao thông Vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa và các cơ quan liên quan lập quy hoạch xây dựng sân bay Sao Vàng theo hướng dùng chung cả quân sự và dân dụng.

Trước đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa cũng đã có quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng công trình đường giao thông từ sân bay Sao Vàng đi Quốc lộ 47 với tổng mức đầu tư 120 tỷ đồng.

Việc khai thác đường bay dân dụng sân bay Sao Vàng sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Thanh Hóa nói riêng và trong khu vực nói chung, đồng thời tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và du khách trong và ngoài tỉnh.